' Diễn Đàn Tao Ngộ - Ái Ưu Du > Văn >> Những Truyện Tình Dài . . .
Diễn Đàn Tao Ngộ
Diễn Đàn Tao Ngộ
Tên:
Mật ngữ:
Nhớ mật khẩu tại máy đang dùng

Ghi danh làm thành viên

Hướng dẫn sử dụng
Quên Password?



 Tất cả các diễn đàn
 Văn Hóa - Giải Trí
 Quán Văn
 Ái Ưu Du > Văn >> Những Truyện Tình Dài . . .
 Tạo chủ đề mới   Gởi bài trả lời
 In chủ đề
Chủ đề có tất cả 16 trang :      <<Đầu Trang trước  1  2  3  4  5  6  7  8  9 10 11 12 13 14 15

Người đăng Previous Topic Chủ đề Next Topic
Trang:

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL
20


KHÁCH LẠ





Tiết trời quang rạng, gió hiu hiu nhè nhẹ phe phẩy mơn man trên đầu cây ngọn cỏ, không gian se lạnh trong màn sương nhợt nhạt buông lơi. Rồi bình minh sẽ ló dạng, sau những toà cao ốc oai sang đứng sừng sững trên các thổ cư. Sài Gòn chóa mắt vì đèn điện thắp sáng rực thâu đêm.
Ba giờ rưỡi khuya, chị Ngọc và tôi dậy sớm nấu nước sôi, chờ nguội đổ vô bốn chai ni lông. Chị nấu canh mì gói với rau muống như hôm qua. Tôi nấu hết ba lít gạo, rang đậu phụng làm muối mè. Chiên khô cá. Cơm chín, hai chị em nhồi thành nắm cơm vắt, xắt lát vừa vừa, rồi bọc cơm vô hộp ni lông, để mang theo cho mọi người ăn ở dọc đường.
Gọi bọn trẻ dậy sớm và cho ăn chút canh mì rau muống, các con cháu còn ngái ngủ, ăn rất uể oải. Có lẽ do cảnh đi bộ nguyên ngày giữa trời mưa, rồi trời nắng chang chang, nóng như thiêu đốt, nên bọn trẻ thấm mệt chăng. Phụ nữ lo quét dọn, rửa chén bát nồi niêu sạch sẽ, bỏ vào mấy cái bao cói, hôm trước ông bà trùm đã cho quà. Cô Quy và tôi mang tới gửi nhờ bà từ cất dùm. Bà từ nói cứ dựng ở bên vĩa hè, không có ai lấy nhầm đâu.
Một lần nữa, tôi soạn lại mấy túi vải các con, mà tôi đã mang ngày hôm trước. Tôi bưng một giỏ mùng, quần áo của gia đình tôi, đem gửi bà Từ. Tôi chỉ chọn lọc ra mấy bộ áo quần gọn nhẹ, bỏ vào những túi vải, cho các con mang theo.
Luật một tay dắt bé Hi, tay xách giỏ cơm vắt, muối mè, khô cá. Bà mẹ Luật mang túi vải cũng bỏ thêm hai chai nước. Tôi bế bé Bo, một khuỷu tay móc thêm hai túi xách quần áo, (của tôi và của bé Bo). Bốn gia đình bạn thân: Ngọc. Quy. Cúc. Bàn, và chúng tôi cùng nhập với hai gia đình Phương Tâm hăng hái vui vui lên đường.
Chúng tôi lặc lè đến trạm xe Sài Gòn, kịp lúc có chừng năm chiếc xe bus từ các hướng đến khác nhau, vừa trờ tới. Các anh vội lùa đám trẻ, đàn bà, lên xe bus đi xa cảng. Trên xe lác đác có ba người khách. Nhóm chúng tôi ngồi sát gần nhau, người lớn cho trẻ con ngồi ở trên đùi mình yên ổn xong.
Nhìn lui nhìn tới chỉ thoáng chốc, thì người và người ở đâu túa ra đông nghẹt, chỉ có người lên, không có người xuống. Hai hàng ghế kín mít, không còn chỗ ngồi, hành khách đứng chật cứng trên lối đi lại. Thật là may, nếu chỉ chậm trể mươi phút nữa, thì kể như nhóm chúng tôi toàn đàn bà trẻ con, thì không bao giờ chen lên xe bus nỗi.
Quang cảnh tại bến xa cảng miền Tây lúc tửng bưng sáng, thật vô cùng náo nhiệt, hổn độn kinh khủng. Những trạm bán vé đông nghẹt người chen lấn ồn ào hơn vỡ chợ. Thế là nạn ăn trộm, cướp bóc, giật giỏ xách, móc túi, bấm dây chuyền, giựt bông tai, bốc hốt, mò mẫm bóp vú, đánh lộn, chửi bới inh ỏi, rượt đuổi huyên náo loạn xạ cả một vùng.
Cánh đàn bà trẻ con trong nhóm chúng tôi, lo ngồi chò hỏ ở một góc sát ngoài cửa bến, gần bức tường gạch, tạo thành một vòng đai tròn sát bên nhau, cho bọn trẻ con ngồi ở giữa, các con cháu ngồi hay nằm gối đầu lên những túi đồ đạc mang theo. Mọi người khách đi tới đi lui, đều tò mò đứng lại lỏ mắt nhìn ngó.
Nhất là họ nhìn lom lom bầy trẻ nhỏ bị cái nóng Sài Gòn thiêu đốt, khiến mồ hôi mồ kê chảy ra như tắm, mặt mày con trẻ Đà Lạt xinh xắn, hai má đỏ au như dồi phấn, mắt sáng môi tươi. May là suốt hai tháng nay bọn chúng sống lăn lóc, cực khổ, cù bơ cù bất, thiếu ăn thiếu ngủ mà còn như vậy! Chúng tôi chỉ sợ sơ ý, bọn trẻ bị bắt cóc, thì chết!
Đàn ông đi đến trạm xe xếp hàng mua vé. Họ đứng từ chín giờ sáng, mà mãi tới ba giờ chiều, mới mua được vé xe đi Rạch Giá cho ngày mai. Hôm nay hết vé. Úi Trời! Cả nhóm bàn nhau là nên ở lại bến xe, ngủ đêm nay tại nơi nầy.
Nếu chúng tôi trở về lại nhà thờ Huyện Sỹ, thật lôi thôi lốc thốc đùm đề trẻ con người già yếu đuối và đau ốm, thì bất tiện. E rằng ngày mai không thể đến đây. Biết có ra xe bus đúng giờ không? Biết có chen chân lọt vào cổng xa cảng, mà leo lên xe đi miền Tây không!? Sáng nay chúng tôi chẳng thấy các phòng vé mở cửa bán vé. Nghe nói ngày mai không có xe đi Rạch Giá. Quyết định như thế thật đúng. Vì, sáng hôm sau, thỉnh thoảng tôi nghe thông báo ở trên loa phóng thanh rằng:
- Để tránh tình trạng ứ đọng hành khách, cũng như nạn lưu thông trì trệ, hay kẹt xe. Khi nào những đoàn xe hiện đang chờ trực tuyến, đã xuất phát. Sẽ tiếp tục mở cổng chính, cổng phụ, cho đồng bào và đoàn xe đậu từ ngoài vào bến.
Lúc nhóm phụ nữ chúng tôi yên ổn ngồi trong lòng xe chật như nêm xong, thì đa số cánh đàn ông và sáu ông trong nhóm chúng tôi phải leo lên ngồi trên mui xe. Chẳng thể phản đối càu nhàu la mắng gì sớt! Ai có vé mà không chịu đi chuyến nầy, thì chủ xe vui vẻ lập tức hoàn trả tiền vé lại cố chủ.
Có người khác mua vé chợ đen, cao gấp năm lần tiền vé chính thức. Sao không ham. Chờ đợi giá biểu mới. Ai cũng cần mới đi. Thế nên họ ép bụng chịu thiệt thòi ngồi chật như nêm, hay ngồi lắt lẻo đau khổ phơi đầu ngoài nắng chang chang một chút. Tự mình muốn đi, chớ ai bắt. Cũng đành!
Lần đầu tiên tôi về miền Tây, nên trong lòng tôi cảm thấy cái gì cũng mới lạ, vui thích khi nhìn từ xa cảng chạy về Long An, là cửa ngỏ nối liền các đồng bằng, nhà cửa thôn quê, sông ngòi kênh rạch chằng chịt, suốt từ Long An nằm giữa hai hệ thống Đồng Nai và sông Cửu Long. Đồng thời trải ra bởi hai triền sông lớn là Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông. Tôi nôn nao muốn nhìn ngắm từng gò, đồi thấp, đồng bằng phì nhiêu chốn danh lam thắng cảnh gần gần những vùng nơi xe vừa đi qua. Thật là thú vị và mến thích quê hương giàu đẹp xiết bao!
Tài xế bảo tất cả mọi người xuống xe, chỉ trừ những ông bà già yếu ốm, và trẻ con thì được ngồi trên xe, xuống phà Bắc Mỹ Thuận. Ôi! Bao nhiêu là quà bánh đặc sản tươi rói ở miền quê, đều tập trung ở bến phà đông đúc, vui vẻ nhộn nhịp, tưng bừng nầy. Cô Cúc mua cho nhóm chúng tôi mỗi người một cái hột vịt lộn ủ trong trấu nóng hổi. Các con tôi thấy con vịt chết nằm trong trứng, thì quá sợ lắc đầu lia lịa, không dám ăn. Tôi mua cho cả nhóm bánh mì thịt, trái cây đủ loại, nào là mận, đào, chôm chôm. Bánh trái kẹo mứt nhiều vô số mà thật rẻ.
Đoàn xe lại bon bon lên đường xuôi về hướng Rạch Giá. Thế là, trùng dương sóng vỗ mênh mông, bạt ngàn nước cuồn cuộn nhấp nhô bên mạn phà to tướng, êm êm. Tưởng chỉ có phà Bắc Mỹ Thuận to lớn sấm uất thôi. Nào dè, một lần nữa tài xế gọi mọi người xuống xe, để qua phà, thì tôi sửng sốt nhìn Bắc Cần Thơ bao la, bát ngát mênh mông càng rộng kinh khủng! Bờ nầy và bờ kia xa tít mờ xa ngàn trùng.
Xe vun vút chạy qua bao nhiêu cầu, bao nhiêu phố xá, ruộng lúa vừa gặt xong còn trơ cuống rạ, vô số cò bay thẳng cánh ngút ngàn, vườn tượt kinh rạch làng mạc sông nước chập chùng. Quê hương mình muôn màu muôn sắc mỗi nơi một vẻ đẹp tuyệt vời! Ngồi trên xe ở quảng đường từ Sài Gòn tới Tỉnh Kiên Giang là 250 km, quãng đường dài khá dài hay lắc lư giồnh xóc.
Ai nấy đều hốc hác bơ phờ, choáng váng xuống tới bến xe Rạch Giá, tất cả hành khách mỏi nhừ, toàn thân ê ẩm, mệt lắm! Mệt nhất có lẽ là cánh đàn ông ngồi trên mui xe, trời nắng chang chang, ai nấy đều đổ mồ hôi hột, quần áo xốc xếch, lấm lem khói và bụi đỏ đường trường.
Tâm và Phương đi tìm nhà của người quen cũ, thì chẳng may được biết họ đã dời đi làm ăn tận miệt Châu Đốc, hay Cầu Ngang gì rồi. Ai nấy đều cảm thấy vô cùng thất vọng, càng bơ phờ mỏi mệt và chán ngán. Bỗng nhiên trời kéo mây đen và đổ mưa xối xả. Nhóm chúng tôi vội vàng chạy đến núp trong một ngôi nhà thờ màu gạch hồng. Bên cạnh một trường học xinh xinh. Nhà thờ vắng hoe, không một bóng người đi cầu kinh dâng lễ. Ngôi trường gạch màu hột gà, cửa lớp sơn màu xanh biển, cổng đóng then cài kín mít. Thật ngao ngán buồn xo với mấy cây phượng đỏ đứng giữa sân tả lả lìa cành, sau những cơn mưa giông. Thì ra thi sĩ Kiên Giang (Hà Huy Hà) đã từng nhỏ những giọt thơ tình say đắm bất hủ: “Hoa Tím Thôi Cài Trên Áo Tím” là ở nơi nầy:
. . .
Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! Chuông nhà trường
. . .
Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nỡ chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
. . .
Tôi đứng lặng một hồi khá lâu, dường như chôn chân trước giáo đường:
Không ngờ thi sĩ Kiên Giang đã gây cho tôi nỗi xúc động sâu xa ngút ngàn thăm thẳm đến thế! Dù trước đó, qua thơ ca của ông, tôi chỉ biết:
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ
Tôi đang dẫm lên ngàn xác phượng đỏ rực rỡ dưới gót chân lúng túng buồn xo ngại ngần. Hoa phượng đỏ bay tản mạn trong nền trời u ám buổi chiều hôm, từng khối buồn đọng xuống vũng tâm tư tôi tím ngắt tối đen. Nhìn quanh, tôi thấy khu xóm quá trống vắng đơn điệu, quạnh hiu quá chừng. Có lẽ tôi là người khách lạ cuối cùng, ngẩn ngơ đứng tư lự bơ vơ giữa thôn xóm nầy?!
Chúng tôi lủi thủi lê bước đi qua xóm đạo, tấm lưng còng xuống bao cố gắng chống chọi dưới sức nặng thăng trầm thương đau. Nơi có những “con đường đất đỏ bụi phủ mờ gót lạ” vắng ngắt buồn bã sao đâu, đến ghê sợ. Đi trên xóm đạo nầy; Khiến tôi nhớ bài thơ “Tha La Xóm Đạo” của Vũ Anh Khanh, ông cũng tả về Tha la Xóm Đạo (ở vùng Tây Ninh):
. . .
Viễn khách ơi! Hãy dừng chân cho hỏi:
- Nắng hạ vàng, ngàn hoa gạo rưng rưng,
Đây Tha La một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt cây lành im bóng lá.
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ,
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ.
Về chi đây hởi khách, có ai chờ! Ai đưa đón?
- Xin thưa, tôi lạc bước,
Không là duyên, không là bèo kiếp trước.
Không có ai chờ, ai đưa đón tôi đâu.
Rồi lặng yên khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài trên vệ cỏ.
Ngàn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng
. . .
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy ngừng chân,
Nghe Tha La kể: Nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ,
Trời Tha La vần vũ đám mây tang.
Vui gì đâu, mà tâm sự.
Buồn làm chi cho bẽ bàng!
. . .
Nay tôi tận mắt ngắm nhìn phong cảnh thiên nhiên tuyệt diễm hữu tình, và chứng kiến cảnh đời lênh đênh lưu lạc trầm uất. Tôi là người khách lạ bước thấp bước cao lạc lõng nơi đây, thật vô cùng đơn độc, xa lạ trên chính quê hương Việt Nam cẩm tú dấu yêu, mà chưa một lần tôi hân hạnh ghé qua hân hoan ngắm nhìn.
Tôi cảm thấy bùi ngùi xót xa, hụt hẩng dâng tràn với bao khái niệm sâu lắng mà mơ hồ trong kiếp sống. Lòng tôi quặn lên nỗi giao động mạnh, từng cơn nghẹn đắng cổ đau đớn, mất mác đắng cay khôn lường đang trào sóng.
Ôi! Thấm thía buồn.

_ * _




-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 15:08:44 Aug 09 2008 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL


NGẨN NGƠ




Ngày 04-05-1975, khi thực sự về miền Tây, thì trời mưa thật lớn. Ở tại Rạch Giá nhiều kinh rạch sông ngòi chằng chịt nầy, cò, diệt, chàng bè, le le kêu inh ỏi, chúng ở đâu mà bay lượn trên không trung, rồi đậu trên những cây cau, dừa, nhiều vô số kể.
Chúng tôi hoàn toàn bị lạc lõng, xa lạ và vô cùng đơn độc. Dắt díu nhau đi tới chỗ lạ cái lạ nước, thật lúng túng bất tiện trăm bề. Khu nầy lạ hoắc, nên chúng tôi kín đáo e dè, không thể hỏi thăm ai, dân địa phương nhìn chúng tôi cũng dè dặt. Chúng tôi không tìm ra khách sạn, nên đi lạc lung tung. Sau đó anh Bàn hỏi thăm, đám trẻ chỉ lối đi về hướng chợ nhỏ xa xa.
Mấy anh qua cầu tới trạm mua vé tàu, để ngày mai đi Phú Quốc. Đứng trên cầu nhìn về phía biển. Mấy giang thuyền nằm im bên những cầu tàu quạnh vắng. Đâu rồi những anh thuỷ thủ phong trần ưa huýt gió, vui vẻ xinh lịch oai hùng trong bộ quân phục trắng tinh, in hình chàng trai phong sương lên nền trời xanh bát ngát, dưới sóng cả cuồng phong thịnh nộ vỗ nước bồm bộp vào mạn thuyền, đẫy đưa cuộc sống lang bạt giang hồ đi tứ xứ?!
Đến gần chân cầu sắt dày lót gỗ bên kia trạm vé, thì có một khu nhà tôn, nhà lá. Các anh vào thuê mấy chỗ trọ. Không phải là phòng trọ như ở các nơi khác, có phòng riêng tươm tất, mà láng trọ ở đây giống như cái nhà trống tập thể, dùng để trải hằng loạt ghế bố cũ. Nước mưa lủng bủng, bùn đen dưới chân ghế bố luôn ướt nhẹp. Ghế bố đen thui, nhiều rận rệp và hôi rình. Thế nhưng người ra kẻ vào ồn ào đông đúc.
Chị Ngọc, Cúc, tôi xẹt ra chợ xép nhỏ gần xịt một bên, chị em tôi chẳng buồn hỏi khu chợ nầy là chợ gì. Mỗi “quầy hàng” là một cái chòi giống túp lều tre lợp lá dừa nho nhỏ, nước bùn đen đen đọng dưới chân cột và trên đường. Quán xá lộn xộn, họ bán nhiều nhất là hàng cá thì có đủ thứ cá, tôm, sò ốc... Úi Trời! Họ còn bán rắn, rùa, ếch, cả những chú chuột đồng móng nhọn to bự sư.
Chị em mua nhiều tôm, cá đồng cá trê vàng, cá sặc bướm, cá sặc rằn, gạo, thơm, rau, cà chua, củi về. Dân chợ nói ở đây cái gì cũng tươi và rẻ nhất là cá, tôm. Nhưng khó kiếm tiền lắm, vì nhà nhà ai ai cũng có cá, có tôm.
Chúng tôi xin bà chủ nhà trọ cho mượn son nồi, để nấu nhờ bữa cơm tối. Họ vui vẻ nhận lời. Chị em xúm lại người nấu cơm, người làm cá, lớp kho, lớp nấu, chiên xào. Thịt cá ở miệt nầy càng rẻ rề. Đây là bữa cơm đặc biệt đầu tiên, và cũng là bữa cơm cuối cùng tại Rạch Giá. Nhóm chúng tôi ăn uống thật no nê, dư dả và rất ngon miệng.
Sau đó mấy chị em bưng nồi niêu son chảo ra bờ kè rửa ráy, trả lại cho bà chủ nhà tốt bụng. Chị em cho các con tắm gội sạch sẽ. Bầy trẻ suốt ngày đi đường quá vất vả, nên vừa đặt lưng xuống ghế bố, đã ngủ say. Riêng bọn già bồn chồn băn khoăn lo lắng, không sao chợp mắt, dù chỉ vài phút.
Khi màn đêm buông xuống, nhìn ngọn đèn đường tù mù hắt ra ánh sáng yếu ớt vàng vọt, nhà trọ hoàn toàn không có cửa nẽo gì, chỉ là những hàng ghế bố nối dài dưới mái hiên rộng, như cái patio lợp lá dừa trống trơn bốn bề. Đêm buồn nghe tiếng mưa rơi lộp độp trên lá, gió lồng lộng rít từng cơn, thổi bay cả tấm mùng vải cũ đen đen, khiến cái lạnh càng về khuya càng ngấm xuyên qua da thịt tôi, thêm dúm dó vì lạnh giá, rùng rợn.
Thỉnh thoảng những đám tuần tra đi ngoài đường, sát ngay bên ghế bố Luật đang nằm, họ hét to lên từng lát gừng, từng lúc thị oai:
- Ai đó?
- Đi đâu?
- Kiểm tra giấy tờ.
Một ông già và mấy thanh niên đứng dưới cột đèn, bị móc túi không còn giấy tờ tuỳ thân, họ nói dai, van xin lằng nhằng lải nhải gì đó, có lẽ nói “xóc óc”, liền bị một du kích địa phương dùng báng súng đập bể mé đầu, vọt máu tươi. Bị thương ngoài da, rồi sẽ có ngày lành. Tổn thương trong lòng dù không ai trông thấy, (vì chuyện không đáng), nhưng đau dài lâu.
Con chuột chỉ là con vật loắt choắt tẻo teo, chuyên đi phá phách hại ruộng hại đồng, dù nó có uống nước trong, hay húp nước đục, thì chỉ no được cái bụng bé tí. Chuột vẫn là con chuột tanh hôi, không thể làm điều gì cao sang, ích lợi cho đời. Nhưng… giờ thì có là chuột hét ra tiếng “anh chị thị oai” cốc lốc, lấc xấc, lạnh lùng thét lên trong màn đêm u tịch. Cũng khiến chúng tôi rất sợ hãi, chệnh choạng, không dám hó hé dáo dác nhìn quanh.
Cổ họng ai nấy đều đắng nghét, như ngậm vốc trà khô. Trà đắng có thể không thích nghi với thổ địa, bởi tại phong sương, hay trà chát bởi tại tình người? Vì, khi chiều chúng tôi nhìn ai, thì cũng thấy họ tò mò nhìn sững mình không chớp mắt. Nhiều người ra vào phòng trọ nầy, mặt lạnh như tiền. “Có tật gì mà giật mình” đâu!
Đúng. Một số dân địa phương tự vệ mang súng AK, trong buổi giao thời, bên cánh tay có cột khăn vải đỏ, họ đã nhìn ngó chúng tôi trừng trừng, nhìn muốn nổ con mắt, muốn ăn tươi nuốt sống.
Khoảng mười hai giờ khuya, có một toán khác, lại đến nhà trọ, gọi giựt giọng những người khách dậy, để kiểm soát giấy tờ tùy thân. Họ gặn hỏi khách trọ cộc lốc đủ thứ chuyện:
- Trước ở đâu?
- Làm gì?
- Nay đi đâu?
- Đưa coi giấy tờ.
Nhóm chúng tôi nói là hồi trước gia đình đã sinh sống ở Phú Quốc. Nay tự do hoà bình, thì muốn về lại chỗ cũ. Bốn giờ khuya, toán du kích thứ ba mặt mày đằng đằng sát khí, súng ống lăm le chĩa ra đằng trước ngực khách, đạn lên nòng róc róc… rắc rắc, ngón trỏ y đặt trên cò, họ lại dựng đứng đầu khách trọ ra khỏi mùng, để hỏi cung. Qua nhiều thủ tục khám xét gắt gao, những túi hành trang vải, (mà tôi đã may hôm 28-4-1975).
Chúng tôi chỉ sợ mấy cha nội không rành về súng đạn, ưa tháy máy tay chân, thích “nẻ” bậy vào dân ngu khu đen, thì chết toi cả đám. Tôi ngồi co rúm, không dám hó hé trong một góc nhà trọ, lẩm bẩm đọc kinh cầu nguyện, mà run như cầy sấy. Sau đó, cả láng trọ được biết là tù-phạm ở ngoài Phú Quốc đã thả ra, nay về đất liền, đi quậy phá cướp bóc mấy nơi. Tửng bưng sáng thì nhiều tốp dân ở Phú Quốc cặp tàu vô đất liền. May mắn Ngọc gặp ông ba trên chiếc cầu gỗ:
- Phú Quốc đã có nhiều trại tù nổi loạn. Cướp bóc tràn lan. Có những cuộc chém, giết, chạm súng gắt gao. Về Đà Lạt thôi.
Chúng tôi tứ cố vô thân ở xứ lạ quê người, nghe thế lại càng tăng lòng sợ hãi lên cao độ. Nếu chúng tôi đi ra Phú Quốc, biết đâu đầu không phải, thì phải tai. Tai ách giữa đàng mang vào cổ. Thế là, chuyện đi Phú Quốc mộng đã không thành. Tất cả anh em chúng tôi rù rì bàn nhau trở về Sài Gòn thôi. Dù sao ở thủ đô vẫn còn có bộ mặt thị thành văn minh, và còn tai mắt quốc tế dòm vô!
Chuyến đi Rạch Giá hầu mong lẽn ra Phú Quốc, thật vô duyên hết chỗ nói. Háo hức hy vọng ra đi. Đến nơi chứng kiến cảnh mắt thấy tai nghe bọn oắt con, nhỏ hơn con cháu mình, “lên mặt” răn dạy cha chú. Tôi chong mắt trông trời mau sáng, để quày quả trở về nơi vừa mới bỏ đi. Có phải chúng tôi sẵn tiền, hay đã trở thành kẻ du mục dị ứng điên khùng? Giá mà hôm qua chúng tôi không gặp mấy tên du kích có đôi mắt trắng dã, có cái nhìn dữ dằn, hành động hung ác, ăn nói cộc cằn thô lỗ. Thì chắc chắn sáng tửng bưng nay, cả nhóm đã lên tàu thủy ra Phú Quốc rồi.
Cũng có lẽ định mệnh an bài cho chúng tôi nên ở Sài Gòn đông vui, thì không cô độc, sẽ là nơi an tựa vững vàng cho tương lai, cuộc sống của chúng tôi chăng?

_ * _

aud



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 09:13:02 Aug 14 2008 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL
22



TUẪN TIẾT VÌ QUÊ HƯƠNG





Mong về miền Tây để thoát nạn, là hy vọng trông mong có các vị quân nhân ở miền Tây, còn giữ vững “non sông và dân tộc”. Nào ngờ… Chúng tôi đã sửng sốt, bàng hoàng rụng rời, vì nhiều lần nghe tin khủng khiếp trên đường chạy loạn, nghe rõ mồn một từ miệng rất nhiều người tất tả xuôi ngược, trên đường chạy về nơi nầy, chạy đi nơi khác. Nghe tin tức sốt dẽo, họ ngang nhiên nói ở hai bến phà Cần Thơ, và Mỹ Thuận. Người ta nói như một lời khẳng định phía Việt Nam Cọng Hoà:
- Không còn “Tướng Tá” gì, đừng hòng mà có ý định “mưu đồ”, chiếm lại Sài Gòn. Nghe:
- Các vị tướng, tá, úy, thậm chí có cả hạ sĩ quan, đã tuẫn tiết hy sinh, cương quyết không khuất phục, đã tự sát.
- Chết thật rồi... A há!
Khi về ngay thủ đô Sài Gòn, chúng tôi lật đật đến thăm những người bạn thân, làm lớn trong chính quyền Sài Gòn. Họ xác nhận rõ ràng: Những vị anh hùng trung liệt bất khuất lừng danh rất đáng kính trọng, đáng ngợi ca ngàn đời, lưu danh thơm thiên cổ ấy, vĩnh viễn ghi sau:

* Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, (1927 > 1975) Tư-lệnh Quân Ðoàn 4.
Tướng Khoa Nam tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy:
- Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh.
- Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
Thiếu Tướng Nam vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ, thăm chiến hữu thương binh lần cuối cùng. Ông trở về dinh Tư Lệnh ở Cái Khế, lúc 11 giờ 30’, ngày 30.04.75, Thiếu Tướng Nam đưa khẩu Browning lên, bắn vào màng tang. Các sĩ quan trân trọng kính cẩn nghiêm chào thi thể ông, trong Nghĩa Trang Quân Đội Cần Thơ.

* Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, (1928 > 1975). Tư Lệnh Quân Ðoàn 2, Quân Khu 2.
Tướng Phú tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy:
- Tư-lệnh Lực-lượng Đặc-biệt.
- Tư Lệnh Biệt Khu 44 thuộc miền Tây.
- Tư-lệnh Sư-đoàn 1 Bộ-binh.
* Tướng Phú uống thuốc độc tự tử, tại nhà ngày 30.04.75. Thân nhân đưa ông vào bệnh viện Grall (Đồn Đất) Sài Gòn.

* Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng – Tư-lệnh-phó Quân-đoàn 4.
Tướng Lê Văn Hưng tuần tự giữ các chức vụ chỉ huy:
- Cấp Đại-đội. Tiểu-đoàn. Trung-đoàn thuộc Sư-đoàn 21 Bộ-binh.
- Thiếu-tá Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn 2/Trung-đoàn 31 Bộ-binh.
- Trung-tá Trung-đoàn-trưởng Trung-đoàn 31 Bộ-binh.
- Đại-tá Tư-lệnh Sư-đoàn 5 Bộ-binh.
- Chuẩn-tướng Tư-lệnh-phó Quân-khu 3.
- Tư-lệnh Sư-đoàn 21 Bộ-binh.
- Tư-lệnh-phó Quân-đoàn 4.
Tướng Hưng đã tự sát vào lúc 20g 45’, ngày 30.04.75, tại văn phòng Bộ-chỉ-huy phụ, của Quân-đoàn 4, bằng súng lục.

* Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ - (1933>1975) Tư-lệnh-Phó Sư-đoàn 21 Bộ-binh.
- Tư-lệnh Sư-đoàn 5 Bộ-binh.
- Tư-lệnh-phó Sư-đoàn 21 Bộ-binh.
- Chuẩn-tướng Lê Nguyên Vỹ tự sát lúc 11 giờ, ngày 30.04.75, tại Tổng-hành-dinh Lai Khê.

* Chuẩn-tướng Trần Văn Hai (1925 > 1975).– Tư-lệnh Sư-đoàn 7 Bộ-binh.
- (*)Trước khi đi Pleiku, làm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn 2, (tháng 5/72) Ch/tg Trần Văn Hai đặt điều kiện với Tổng Thống Thiệu:
- "Khi nào giải toả núi Chupao, và 3 Quận phía Bắc Bình Định xong. Tôi sẽ rời chức vụ".
Khoảng 3 tháng sau, ông hoàn thành nhiệm vụ, & về làm Tư Lịnh Sư Đoàn 7 Bô-binh. Vì ông không thể làm việc được với Tướng Toàn. Sau khi nhậm chức, ông không ở Pleiku, mà đặt Bộ-Chỉ-Huy Tham Mưu Tiền Phương tại Plei Mrong. Xa khoảng 10 dặm Tây Bắc Pleiku, cùng với Liên Đoàn 2 Biêt-Đông-Quân. (*) do anh binh 3 KQ: Trần Văn Phúc cho tin).
- Chuẩn-tướng Trần Văn Hai đã tuần tự giữ các chức vụ Chỉ-huy:
- Tỉnh-trưởng Phú Yên.
- Chỉ-huy-trưởng Biệt Động Quân.
- Tư-lệnh-phó Quân-đoàn 2; Quân-khu 2.
- Tư-lệnh Cảnh-sát Quốc-gia.
- Tư-lệnh Sư-đoàn 7 Bộ-binh.
- Ngày 30.04.1975 Chuẩn-tướng Hai tự sát tại văn phòng Tư-lệnh, Ðồng Tâm. Mỹ Tho. Nơi Bộ-tư-lệnh Sư-đoàn 7 Bộ-binh.

* Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (24 -3 -1938 > 1975).
- Đại-tá Cẩn phục vụ tại các binh chủng: Dù. Thủy-quân Lục-chiến. Biệt-động-quân. Quân-báo. An-ninh Quân-đội. Lực-lượng-đặc-biệt. Tại các tỉnh Cần-Thơ (Phong-Dinh). Chương-Thiện. Sóc-Trăng (Ba-Xuyên). Bạc-Liêu. Cà-Mau (An-Xuyên).
- Tiểu-đoàn số 42, “Tiểu-đoàn Cọp Ba-đầu-Rằn. Tiểu-đoàn số 44 Cọp Xám U-Minh Hạ.
- Ðại-tá Hồ Ngọc Cẩn bị Cộng-sản đem ra xử bắn, trước dân chúng.

* Ðại-tá Ðặng Sĩ Vinh .- Lúc 2 giờ ngày 30.04.75, Ðại-tá Vinh, cùng gia đình gồm: Vợ và Bảy người con, đã tự tử bằng súng lục!!!
(1 chồng + 1 Vợ + 7 người con = 9 nhân mạng .Vô cùng kinh ngạc ???)

* Trung-tá Nguyễn văn Long .- rút súng bắn vào đầu, tuẩn tiết sáng 30-4-75 trước Hạ Viện. Sài Gòn.

* Thiếu tá Không-quân Nguyễn Gia Tập .- (25-12-1943 > 30-4-1975). Phi-đoàn 514-518, Khu-trục Biên-Hoà. (do anh KQ: khongquan2 cho tin).
- *Ông thụ huấn khoá 64D, năm 1964.
– Tốt nghiệp T 28 - ở Randolph AFB – TX. Hoa Kỳ.
- Tốt nghiệp TopGun – Khóa A 1e - tại Hurburt Field, Florida.
- Sĩ quan Liên-lạc trường Huấn-luyện Keesler Hoa Kỳ. (*) (do anh KQ: thanbaokimnguu cho tin).
- Làm việc tại: Phi-đoàn Khu-trục 514 - 518 – Biên Hoà.
- Làm việc tại phòng Đặc-trách Khu-trục, Bộ Tư-lệnh Không-quân.
- * Thiếu tá Tập (*) tự sát bằng súng lục, trước sân cờ, trong căn cứ Bộ Tư-lệnh Không-quân. Thân nhân của Th/t Nguyễn Gia Tập, đã đem thi thể anh Th/t Tập về chôn cất tại Long Khánh (do anh KQ: Vũ Ngô Khánh Truất cho tin).

- Thiếu tá Nguyễn Gia Tập là vị anh hùng phi công Khu-trục A 1 Skyraider.

* Thiếu úy Hoàng Văn Thái - Tại một bùng binh ở Chợ Lớn, Thiếu uý Thái và một nhóm bạn, mỗi người một quả lựu đạn, cùng mở chốt, kết liễu đời mình, ngày 30-4-1975. Họ là toán bảo vệ Đài-phát thanh. Đài Truyền-hình Việt Nam.

* Trung-sĩ Vũ Tiến Quang (30-9-1956 > 30-4-1975) đã anh dũng chiến đấu tới cùng, không chịu đầu hàng giặc. Ông bị cộng-sản đem ra xử bắn, trước dân chúng.

* Và còn nhiều! ... Rất nhiều chiến sĩ vô danh khác nữa… Họ là những anh hùng kiện tướng, đầy nhiệt huyết, yêu đồng đội, hy sinh vì dân, vì đất nước quê hương. Nhất là vì danh dự của một quân nhân Vịêt Nam Cọng Hoà. Họ rất anh dũng tự quyết định mạng sống mình, không chịu khuất phục địch. Gíông như chí sĩ Trần Hữu Lực thời xưa, đã có câu tuyệt mệnh:
- “ Non sông đã chết. Ta há lại sống thừa. Từ mười năm giũa kiếm, mài dao. Chí mạnh, những mong phò tổ quốc. Lông cánh chưa thành. Việc bỗng đâu hoá hỏng. Dưới chín suối điều binh khiển tướng, hồn nhiên ngầm giúp bọn thiếu niên…”
Đó là sự trả giá vô cùng quan trọng, rất đắt về sự: Vinh quang. Chiến thắng. Bi lụy. Can trường - Không hề thua cuộc! Vì lý tưởng ưu trội thật cao vời. Và, vì sự bất tử cao cả, đầy oanh liệt. Kiên cường. Bất khuất của người lính Việt Nam Cọng Hoà quá hiên ngang, oai phong.
Lão Tử đã có câu:
- "Để thân mình lại sau. Thế mà thân mình đứng trước. Gác thân mình ra ngoài. Thế mà thân mình vẫn còn".
Ôi! Họ lưu danh thơm lẫy lừng thiên cổ. Qúy ông đã anh dũng, hiên ngang lừng lẫy coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Họ vĩnh viễn nằm lại, hai tay thân ái ôm trọn quê hương ghì siết trong lòng. Họ đứng vững giữa non sông gấm vóc trong quê cha đất tổ. Họ đã bất khuất vẻ vang sống mãi trong dòng lịch sử dân tộc Việt Nam, có bốn ngàn năm văn hiến.
Lòng tôi bỗng nhói buốt lên từng cơn đau điếng, xót xa khôn tả xiết. Tôi rụng rời run rẩy, nghẹn ngào, xót xa, đắng cay. Hai hàng nước mắt của tôi, và các bạn đều tuôn chảy. Chúng tôi đã ôm mặt khóc, vì tuyệt vọng. Bị mất đất dung thân trên quê hương, vì thương sầu nuối tiếc những vị anh tài bất hủ. Khóc thương hơn sự đau khổ, cơ cực đọa đày biệt xứ, trong lãnh thổ của chính ta.
Tôi khóc cho thân phận đớn hèn đắng cay bọt bèo. Không hề cần... lo “phản động” lên án oán trách ai, hay xách động xỉ vả ai. Bởi, tôi không thể làm nên dữ kiện lịch sử. Những điều đó, không thể một mình ên tự ý ta thêm bớt, hay hư cấu. Tôi không thể tạo dựng dữ kiện. Chỉ xin ghi lại những sự kiện mắt thấy tai nghe, trong một chu vi hạn hẹp. Thế thôi.
Không bao giờ có thể làm gì hơn. Càng không thể tạo thành sự kiện thăng trầm trong xã hội. Hoặc thay đổi con người ấy ở trong hoàn cảnh nầy, dù họ đã đả thương tôi trầm trọng chăng nữa. Nỗi đau đớn nén dưới chiều sâu tâm hồn, đã vọt lên tim, lên óc, lên cổ tôi, những cục nấc nghẹn ngào tức tưởi.
Thì, từ sau đó, nỗi đau trong tôi trào lên trang giấy trắng dày cui, hầu mong vơi đi bao sầu đắng tình đời oan gia. Và ... nỗi niềm riêng gánh chịu.

_ * _

Ái Ưu Du
------------- - - - - - - - - - - - -
Bài ghi thêm:

- Lúc còn ở tù, tôi, (Odden03) nằm sát bên Trung Tá Trưởng-phòng 2/ Q.Đ.4, là anh Nguyễn Đạt Phong có kể:
- Lúc nghe phu nhân của Tướng Hưng gọi, anh em tham mưu QĐ chạy qua, thì thấy 2 người nằm đầy máu, nên tưởng cả 2 người chết.
Nhưng phu nhân chỉ ôm Tướng Hưng, và yêu cầu cho chôn cất theo lễ nghi quân cách. Lúc đó VC đã tiến vào Cần Thơ. Nhưng mấy anh em tham mưu đã cố gắng lo chôn cất...
Rồi anh em chạy về dấu hết súng, và xoi một cái lỗ nhỏ, để nhìn vào phòng của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Nhưng không ngờ... trong ngăn kéo của Tướng Nam còn cây súng nhỏ.
Anh Phong cũng kể sự nhân đức của Tướng Nam:
- Lúc Tướng Trương Dành Oai, đem mấy người ở Cần Thơ xuống tàu, chạy ra biển. Thì Tướng Nam ra lệnh:
- Phải quay trở lại. Nếu không sẽ bị pháo dập.
Tất cả chờ lệnh của Tướng Nam. Khi con tàu sắp vượt ra biển.
Tướng Nam nói:
- Để họ đi...
... Và Tướng Nam bỏ điện thoại xuống.
*
Oden03
-----------------------

2008-08-15 13:47,

Major Dang Si Vinh
He moved in our neighborhood sometime in early 1974. His family - wife and seven children - soon earned sympathy from people along the paved alley of a Saigon suburb where most inhabitants were in lower middle class. His eldest son was about thirty years old and a first lieutenant in the Army Medical branch after graduated pharmacist from the Medical School. The youngest was a 15-year-old pretty girl.
It would have been a happy family if Saigon had not fallen to the hands of the Communist North Vietnam army. That was what people in the neighborhood said about the middle-aged RVN Army Major Dang Si Vinh, who was holding a job in the National Police Headquarters in Saigon.
At about 2:00 PM on April 30, 1975, almost two hours after RVN President Duong Van Minh surrendered to the Communists, people near by heard several pistol reports from his home. After hesitating for safety, his neighbors got into his home to find Major Vinh, his wife and his seven children lying each on a single mattress, all dead, each by one .45 caliber bullet that gushed pools of blood from the horrible holes at their temples.
On a long dining table, decent meals had been served and eaten as if in an usual and peaceful dinner. There were nine small glasses, all had traces of a pink powder left at their bottoms. Apparently, Maj. Vinh and his relatives had taken the drug - probably sleeping pills - before Vinh gave each a finishing stroke with his .45 pistol.
In an open small safe he left some hundreds of thousands South Vietnam piasters, rated about 500 dollars at the time, an indication of his poor circumstances as an army major. On the note along with the money, Vinh wrote:
"Dear neighbors,"
"Forgive us. Because our family would not live under the Communist regime, we have to end our lives this way that might be bothering you. Please inform my only sibling, a sister named ... at... and use this money to help her bury us anywhere. "
Thank you,
Dang Si Vinh.
------------------------

a/ HH dịch:
Vào khoảng đầu năm 1974, Th/Tá Vinh, vợ và 7 người con dọn về sinh sống ở một khu bình dân, ngoài ngoại ô vùng Sài Gòn. Theo một người hàng xóm cho biết. Và sau một thời gian rất ngắn, gia đình của Th/Tá Vinh được sự thông cảm, và quí mến của bà con lối xóm. Người con trai đầu lòng của Th/Tá Vinh chừng 30 tuổi, Tr/Uy Quân Y, sau khi tốt nghiệp trường Dược (Pharmacist Of medical School), và người con gái út khoảng 15 tuổi.
Gia Đình của Th/Tá Vinh là một gia đình sung sướng, hạnh phúc, nếu Sài Gòn đừng có rơi vào tay bọn Cộng-sản miền Bắc. Theo lời kể lại của hàng xóm về chuyện Th/Ta Vinh, người nắm một chức vụ trong Bộ Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn.
Chừng 2 giờ chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng, thì bà con xung quanh kề cận với gia đình Th/Tá Vinh, nghe vài tiếng súng nổ, xuất phát từ trong nhà của Th/Tá Vinh. Sau khi thấy không còn nguy hiểm, thì những người lối xóm bước vô trong nhà của Th/Tá Vinh. Họ đã chứng kiến Th/Tá Vinh, vợ, và 7 người con nằm kế bên nhau, trên một chiếc giường, tất cả đều đã chết, do thương tích từ viên đạn xuyên qua thái dương.
Kế bên là bàn ăn, là bữa ăn rất tươm tất. Kế đó là 9 cái ly uống nước trên bàn, mối cái ly đều có dấu vết tích để lại một chất bột màu hồng, đọng lại dưới đáy mỗi cái ly. Có lẽ đây là thuốc ngủ, mà trước đó Th/Tá Vinh đã cho mỗi người trong gia đình uống. Sau đó tử tự bằng súng lục Colt45.
Một cái tủ sắt đã mở sẵn, Th/Tá Vinh đã để lại vài trăm ngàn đồng tiền mặt, tuơng đương chừng $500 US dollars, cùng với một bức thư ngắn, do chính tay Th/Tá Vinh viết:
Bà Con mến,
Mong Bà Con niệm tình tha thứ cho gia đình chúng tôi, bởi vì chúng tôi không muốn sống dưới chế độ Cộng-sản này. Nên chúng tôi đã chọn cái chết, và chính cái chết đó, có thể đem lại sự buồn phiền đến với bà con.
Xin nhờ bà con báo tin này đến người chị (em) của tôi tên là ..., ở ..., và dùng số tiền này, để lo chôn cất cho gia đình chúng tôi.
Xin đa tạ
Đặng Sĩ Vinh

_ * _

aud



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 17:34:01 Oct 16 2008 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL
HAI VÌ SAO QUỲ GỐI TRÊN BẾN NGÂN HÀ




Bác tài chạy thẳng về đường Cường Để, Duy Tân, Minh Mạng, Phan Đình Phùng, Hai Bà Trưng. Nhà Chung sẽ là trạm sau cùng. Xe ngừng ở Duy Tân. Hoài bỗng giật mình run rẩy, như con chim nhỏ bị tên, khi thấy Hoàng và các cháu, đứng chọn sách, mua đèn Noel. Anh xuất hiện bất ngờ, khiến Hoài sững sờ quá sức, không thốt nên lời, để nói bác tài cho Hoài xuống xe, chạy đến bên họ. Nàng ngẩn ngơ nhìn. Trái tim bình an đột ngột nhảy tưng tưng, cơ mô không hề biết mỏi mệt, đập thình thịch trong lồng ngực. Nàng mệt nhoài như muốn đứt hơi.
Trái tim ơi! Hãy nghỉ mệt một vài giây mừng rỡ đi nhe! Cho tôi bớt bồn chồn xao xuyến, đến tận cùng tế bào run rẩy. Giữa buổi hoàng hôn chớm buông thả bức màn sương mỏng tanh xuống thành phố thấp thoáng hoa đèn, Hoàng đến bất thần, như mang theo làn gió xuân nồng say ấm áp, làm xôn xao tâm hồn. Hoài trào dâng mối xúc động choáng ngợp mãnh liệt.
Đào, Yến, xuống xe ở dốc Minh Mạng. Mấy chàng trai ngồi sau lưng Hoài, bỗng chồm người ra, huýt gío cười đùa, chỉ chỏ, xuýt xoa lung tung. Trong ngôi nhà bên phố, có người con gái rất xinh đẹp. Khiến Hoài ngẩng nhìn đăm đăm, và mến thích ngưỡng mộ. Hoài không thể ngờ cuộc sống, tình yêu, hòai bão, tương lai hạnh phúc của mình, sẽ chạm trán gay gắt kinh khủng, đớn đau đột ngột, tóe lên thành suối nước mắt li ti, chảy hoài không cạn khô. Cả cô gái kia cũng không thể ngờ: Đó là hai dòng giông bão:
*Nguyễn Phước Quyên Hà & *Trần Ngô Hương Hoài.
Do quá nể lời mời chị em Nguyệt, Hòai đến Nguyệt chơi. Vào nhà bạn, Hoài ngạc nhiên thấy Biên đã có mặt, anh chạy xe lambretta về trước. À, thì ra, hai cô nể trọng anh thúc bá của nó, nài nỉ Hoài về nhà. Đã lâu, vài lần đến nhà Nguyệt, tình cờ gặp Biên, Hoài chào hỏi xã giao. Chẳng có gì bận tâm. Thậm chí hồi sáng gặp nhau ở Cầu Đất, Hoài không nhớ Biên. Hoài tự trách "Mình kém cõi xã giao, tệ mạt trí nhớ thế, không biết".
Hai cô kia làm cơm, nhưng khóa cửa bếp, không cho Hoài xuống phụ. Họ thật vụng về, khiến Hòai mất tự nhiên, tự dưng cần cảnh giác, đề phòng. Nói chuyện với Biên chả vui vẻ, chả biết nói gì, không có chuyện gì nói! Mình đã kém cỏi, gặp phải... trường hợp càng kém cỏi tệ. Không tế nhị chút nào, trách sao Hoài khó chịu quá!
Biên mến thích Hoài. Điều đó thuộc lẽ tự nhiên, qua cái nhìn Hoài vô tình bắt gặp, khi ngẩng nhìn Biên. Cái nhìn khác hẳn bạn trai cùng lớp, cái nhìn giống hệt Phú, chứa đựng niềm cảm mến, âu yếm dịu vợi! Hoài hãnh diện về Hoàng, được anh ưu ái thương yêu. Hãnh diện về chính mình, nàng càng được đẩy xa hơn, khi Hoài biết chắc chắn vài ba chàng trai, thực sự mến mình. Đã yêu và được hồi đáp, Hoài biết “cái nhìn” Biên trìu mến dường nào, lúc Biên đột ngột đề nghị, cho anh nắm bàn tay nàng, xem bói. Dẫu bị từ chối, Biên vẫn vui vẻ bám riết ý định làm thầy bói... dở hơi.
Nói chuyện tào lao, tào khào, chẳng có đề tài gì hấp dẫn. Nguyệt mở cửa lớn, dọn cơm lên bàn. Bàn nầy dùng tiếp khách, vừa học, cũng là nơi ăn cơm. Hoài nhất định đi về. Nguyệt thấy mặt Hoài xù ra, biết bạn không bằng lòng, cô gái cười giả lả. Tiễn Hoài ra tận ngõ, nói:
- Tao biết mày không bằng lòng. Đừng giận tao. Thông cảm tao ở thế kẹt. Nghe! Nếu tao không "nhiệt tình tạo cơ hội" cho ảnh gặp mày, theo yêu cầu, ảnh trách tao không hưởng ứng. Dù giải thích gì, ảnh cũng không tin.
- Thông cảm mày kiểu nầy, có ngày chết tao à.
- Tao biết mày có thừa bản lãnh. Của César, ta đã trả về cho César rồi mà.
- Chưa chắc à, bạn ơi!
- Anh Biên là người tư cách, là lính chiến chỉ có vài ngày phép, không có thì giờ đi theo đuôi ai, tán hươu tán vượn dài dòng. Dù vậy, tao tin tưởng tình cảm của ảnh, đối với mày đặc biệt, và chân thật. Hiểu không?
- Hiểu... quá đi chứ.
Nguyệt đẩy bạn ra khỏi cổng, cười tít mắt:
- Hiểu rồi, thì đừng giận bọn tao. Chúc Noel vui vẻ.
- Hổng dám đâu.
Trong phòng khách, Bảo, Quốc, Toàn, Thịnh, loay hoay trang hồng cây thông đã chặt bên đất Thánh Tây. Chúng hì hà hì hục lôi xuống đồi, kéo lên dốc, vát qua thung lũng, khe suối, đem về nhà. Cây thông cao quá, đọt đụng trần cong hẳn lại, phải cưa một đoạn dài. Chúng móc đầy dây kim tuyến. Ngôi sao. Quả cầu đủ mầu sắc. Thiệp Noel. Thiên thần. Ông già Noel. Những gói quà nhỏ xíu, gói bánh kẹo, đồ chơi do Hoàng chọn mua.
Ăn cơm tối xong, Hoài, Thùy quét dọn, lau chùi nhà cửa sạch sẽ tươm tất, Hoài ủi áo quần cho gia đình, chuẩn bị đi lễ. Thùy lau bụi trên các kệ sách:
- Hồi chiều, anh, Phú, Lễ, Tài, Vinh, đến nhà, mời chị em mình, mười giờ rưỡi lên Couvent xem lễ, chứ ở Nhà Thờ Lớn đông lắm! Rồi về nhà họ ăn réveillon, mở party... Em chưa kịp nói gì, thì anh Hoàng đến.
Ngạc nhiên, Hoài ngừng ủi áo, ngẩng nhìn em, hỏi:
- Hoàng gặp Phú? Họ nói chuyện vui vẻ há?
- Coi chừng cháy áo. Chị "táp pi" em tới tấp vậy? Họ chào hỏi nhau, dzui dzẻ cả làng.
Thấy Hoàng ngoài phố đã rộn ràng, xao xuyến mừng rỡ. Về nhà Hoài dấu kín niềm vui, vờ như chưa biết gì. Các cháu muốn Hoài bất ngờ thú vị, nên không nói Hoàng đã lên Dalat. Tâm trạng Hoài lúc này thật kỳ, vừa mừng vừa lo, bồi hồi, quắt quay với nỗi mong chờ.
Nghe em nói, nàng nao nao, băn khoăn. Lãng mạn không? Nhắc đến Hoàng, Hòai quên hết mọi sự, tươi vui ngay. Mọi thứ dẹp sang một bên. Khi tình yêu đến, khác gì cây khô, gặp mưa thuận gió hòa, trở nên xanh tốt. Muốn sớm gặp người yêu, nàng nôn nao, vui mừng, thấp thỏm, không yên ổn.
- Chị cũng đi lễ, với các anh kia chứ?
- Đi sao được!
- Đến nhà Phú, khoảng mười giờ, chị về đi lễ với anh Hoàng. Không có chị, chẳng vui.
- Đủ rồi. Không chuẩn bị gặp người yêu sao?
Trong nhà vui như mở hội, chị Khánh, chị Hạnh, bà bếp chiên xào nấu nướng. Các món ăn thơm phức. Họ chuẩn bị sẵn, lát nữa đi lễ về là ăn réveillon. Nhạc giáng sinh trỗi lên tưng bừng, hoan hỉ trong căn nhà ấm áp. Tiếng cười các cháu vang khắp nơi.
Một đêm hội lịch sử Chúa Giáng Sinh 24 tháng 12, là đêm lạnh lẽo buốt giá hạnh phúc rất mùa xuân. Hoài chợt bừng tỉnh giấc ngủ nồng say. Sau mùa thu héo úa, mùa đông buốt giá gần tàn. Lòng em xôn xao, dấy động thoáng nhớ đắm say, vấn vương, ngọt ngào mãi không rời. Qua tiếng tơ lòng rung trên mỗi phím loan.
Mặc sẵn quần áo dài mới màu xanh nhạt, điểm cánh hoa vàng nhỏ rải rác trên tà, quàng chiếc manto đen, từ khi có "bồ", vấn đề ăn mặc trở nên cần thiết với Hoài, quần áo "lèng xèng" giản dị, nhưng tươm tất. Nàng nghĩ:
- (Dù sao nên "giữ kẽ" một tí, diện một tí. Xuềnh xoàng quá, coi cũng mất mặt bầu cua. "Quen sợ dạ, lạ sợ áo quần" mà!)
Hoài đi lên, đi xuống, con dốc mờ tối, năm bảy lần, chờ đón, ngóng trông Hoàng kinh khủng. Ruột nóng như lửa đốt.
Dưới ánh đèn vàng vọt đầu phố, hàng cây tối mờ, bụi qùy cánh lá xòe to nham nhám, thấp thoáng nhiều bông hoa màu nghệ, nhụy nâu, nở hết cánh, trông vui mắt, chúng nép mình dưới chân vách đá.
Các mái nhà dưới thấp, trên cao, chênh vênh bên sườn đồi thoai thoải, chạy dài xuống thung lũng âm u, ánh đèn mờ nhạt chiếu ra, tạo thành nhiều đóm sáng bất động, lớp sương mù dày bao bọc cả vòm trời. Cuối sân sau trường kỹ thuật Lasan, bờ khe nhỏ ăn xuống phiá dưới, khe mương nước chảy một bên đường. Thỉnh thoảng vài hòn đất, đá, lăn trên khe cao rơi xuống. Một tiếng "bủm" khô khan. Nghe to và lạnh lùng.
Hoài dừng lại, nhìn về phía đó đăm đăm, hình như có tiếng ai nói gì, trong bóng tối, nơi ánh đèn đường không dọi tới. Ai nói gì vậy! Văng vẳng đâu đây, tiếng lao xao cười nói ồn ào, thoáng chốc đến nhanh. Tốp nam nữ tấp nập ra phố đêm. Đi dự lễ. Coi vậy nàng nhác gan ghê!
Có cái gì khiến Hoài nhìn ra đầu đại lộ Yersin? Năm ba cây anh đào hoa nở rộ, cài cánh hoa mong manh, ẻo lả, trên cành trơ trụi lá. Đồi thông rì rào trò chuyện dưới thung lũng, khu đất nhà ông Nguyễn Đệ rộng mênh mông. Có gì phải đăm đăm nhìn về hướng đó, lòng thấp thỏm bồn chồn âu lo quá đỗi?
Chiếc taxi ngừng lại ở đầu dốc, Hoàng bước xuống, bộ veston mùa đông màu đen, cà vạt mầu nâu non, ôm kín cổ áo sơ mi vàng nhạt, kẻ sọc nâu mờ nhỏ xíu, áo pardessuis màu kem vắt trên vai, như khách lữ hành ngày xưa mới gặp. Đôi giày da thời trang cùng màu với bộ veste.
Hoài cười rạng rỡ, rảo bước về phía anh. Dưới cột đèn đường, nhìn thấy Hoài, anh âu yếm trao nàng nụ cười tươi thắm, nắm tay Hoài đi xuống dốc. Nàng nói líu lo:
- Sao anh không viết thư, báo tin trước. Em đi đón?
Hoàng đưa Hoài quyển album. Hộp bánh, quyển "Trau Dồi Ý Chí" của Claude Maillard, một hộp nho nhỏ, bao giấy kính vàng, cột nơ hồng. (quà cho gia đình các anh chị, các cháu, Hoàng đã đem đến hồi chiều).
- Anh lên đây hồi nào vậy. Hoàng?
Hoàng siết chặt tay Hoài, khẽ thở dài, không nói:
Mặc Hoài hỏi chuyện, anh cười cười siết tay Hoài im lặng. Dừng lại dưới ánh đèn. Nàng giựt tay ra khỏi tay anh, ngẩng lên, hỏi:
- Giận em à, hở anh?
- Hoài đi đâu, từ sáng sớm đến tối mịt vậy em?
- À, em đi xuống Cầu Đất với mấy nhỏ bạn, làm chuyện tào lao, ngu ngốc. Anh lên đây, em rất mừng, anh à.
- Biết có "họ", Hoàng hổng thèm lên Dalat, dự lễ Noel đầu tiên của chúng mình. Hoài có vài chàng si, mơ. Nhớ gì đến anh, mà mừng, vui. Các bạn chờ em suốt buổi chiều đó.
- Tự họ qúy mến cả nhà. Chẳng riêng ai. Không vì ai, anh ơi!
- Chưa chắc à.
Hai người tiếp tục đi xuống con dốc nhà:
- Anh thấy Nghi “là bà con" của em đến đây. Ủa! không bà con sao? Vậy không lẽ, họ là bạn của chị Hạnh?
- Mỉa mai gì ác thế? Em yêu anh nhiều mà.
Cảm động trước câu nói bất ngờ, Hoàng nhận tình em yêu, bằng cách tìm bàn tay Hoài trong bóng tối, ánh mắt tha thiết nồng nàn. Anh không nỡ trêu chọc nàng, sợ Hoài hờn dỗi, thì mất vui. Họ buông tay nhau, khi đứng trên thềm.
Hoàng, Hoài, cùng các cháu đi lễ tại trường Tabert. Gió cuối đông lồng lộng, thổi về làn hơi buốt giá tê người. Trên các nẻo đường lớn trong thành phố, người đi kẻ lại đông vô kể. Họ khoác bộ cánh rực rỡ, áo lạnh khăn quàng, găng tay mũ len, đủ mọi màu sắc. Phố phường tưng bừng rộn rã hoan ca. Khác hẳn ngày đầu đông ở xứ lạnh. Người người vui vẻ cười đùa, chuyện trò ríu rít, đi lại ngược xuôi, chen lấn nhau trên đại lộ; Không chiếc xe nào qua lọt giữa rừng người đông như kiến.
Dưới hai vòm cây giao nhánh, các vì sao ẩn hiện. Sương mù cuộn thành lọn bông gòn trắng, xốp, bồng bềnh rơi trên thung lũng ẩm ướt. Cành cây kẽ lá đọng hạt sương lóng lánh. Vầng trăng khuyết không muốn lặn dừng lại, nghe từng hồi chuông dài ngân nga giữa đỉnh đồi. Qua các sườn dốc, các khe thung tiếng chuông mừng vui réo gọi, hoan hỉ reo vang cùng thế nhân đón chào ngày Chúa giáng trần.
Lòng Hoàng, Hoài, xôn xao dấy động, vui không thể tả. Tay trong tay, tình nồng trong mắt biếc trao đưa, đôi mái đầu xanh chụm lại, cùng dạo bước bên nhau, quanh khu trường học. Bầu trời ướt đẫm sương đêm. Thỉnh thoảng gió thổi qua mát rượi, đủ làm cho da người con gái xứ lạnh càng thêm thắm hồng.
Dưới hai vì sao sáng nhất, thân ái quỳ gối bên nhau trò chuyện trên bến Ngân Hà. Vành trăng khuyết lơ lửng, như chiếc thuyền con trôi giữa các tầng mây. Noel năm 1960 - là một lễ Giáng Sinh tuyệt diệu, hạnh phúc nhất của đời cô gái chớm lớn. Và, có lẽ là một Noel tươi đẹp, thú vị nhất của một chàng trai mười chín.
Họ đi trong lòng phố giá băng buốt lạnh, mang trong lòng niềm hân hoan yêu đời, vui vẻ hạnh phúc, bình an, tuyệt vời nhất. Noel khai sinh tuổi xuân hồng phới phới, rót mật vàng từ thinh không, xuống lòng phố nở hoa mùa đông. Trên đỉnh đồi mù mịt sương muối và trong cánh đồng thương yêu của Hoàng, Hoài. Một Noel tuyệt vời ngọt ngào ngây ngất, đầy hương vị tình yêu miền núi.
Các cháu vào hội trường, xem học sinh trường trình diễn văn nghệ. Triển lãm tranh ảnh. Bích báo. Tuần san. Máng cỏ. Hoàng, Hoài, ngồi ngoài băng ghế đá, cạnh vườn hoa trước nhà thờ Dòng, Hoàng lấy trong túi áo veste ra hộp sơn mài nhỏ, sợi dây chuyền vàng l8 k, mặt chữ HH. Anh đeo sợi dây chuyền vào cổ Hoài, anh âu yếm nói:
- Kỷ niệm dù bé nhỏ, vẫn có giá trị về hạnh phúc một đời. Ta cảm ơn Chúa, cho chúng mình gặp nhau, yêu nhau.
- Dạ phải.
Vuốt lọn tóc buông dài trên bờ vai Hoài, anh nói:
- Mái tóc em dài, anh rất thích, đừng cắt ngắn nhe.
- Anh khen quá, em bể lỗ mũi, chết à.
- Ơ kìa! Ai khen em mà bể mũi. Mắc cỡ chưa!
- À há. Chi mà dị dạng rứa hè. Anh là khách lữ hành, dù đất lành, chim vẫn chưa đậu. Chốn phồn hoa đô hội cũ sẽ gọi anh quay về thôi. Có gì mà không bể mũi em chứ.
- Phượng Hoàng gãy cánh trên đôi vai nầy rồi.
Hoàng vỗ vỗ trên vai Hoài, nói lời dịu ngọt. Anh nâng niu lọn tóc dài xõa bên má, đưa lên môi hôn. Hoài cắn nhẹ làn môi, đầu nghiêng hẳn lên vai chàng. Hơi thở Hoàng ấm nồng, phả nhẹ vào mái tóc Hoài, như làn hơi sương nhút nhát, ấm áp. Ngón tay thư sinh trắng trẻo mềm mại, truyền qua làn tóc mỏng xõa trên vai Hoài, cảm giác đằm thắm, lâng lâng ngọt ngào.
Hoàng biết, nếu anh cúi xuống, đặt lên môi Hoài nụ hôn đầu tiên, nàng không phản đối; Anh đắm mình trong hạnh phúc bất tận, ngây ngất niềm vui dạt dào. Anh nâng niu, trân trọng, mối tình nên thơ, nở hết cánh trong đôi trái tim chân thật.
Tiếng chuông báo hiệu nửa đêm, ngân dài giữa vùng núi đồi trùng điệp chập chùng. Biển sương mù trắng xóa. Hai người dìu nhau vào giáo đường xem lễ. Anh dâng cuộc đời, tình yêu và tương lai cho Chúa Hài Đồng gìn giữ.
Hoàng không bao giờ quên, dù mai đây thời gian trôi chảy mãi, đời mỗi người trong hai chúng ta sẽ xa cách, phai mờ đi. Cuối cùng tình yêu nầy, vẫn sống mãi trong tiềm thức, tư tưởng mỗi người.
Hoàng về nhà chị Khánh ăn mừng lễ, không khí gia đình ấm cúng, thân mật. Ba giờ khuya, Hoàng về nhà Tuấn ở cuối đường Hoàng Diệu.
Một mình đi trên lòng phố vắng, hồi lâu còn nghe rõ tiếng gót giày cô đơn, thong thả gõ đều đặn. Sương rơi lốp đốp trên cành lá, hạt sương mọng tròn, long lanh như ngấn lệ đọng, đậu trên đầu ngọn lá rung rinh.
Đường về khuya hiu hắt hoang vu, đơn điệu lạ thường. Cái khuya buốt lạnh, giá băng, im ngắt đến ghê rợn. Cái khuya thăm thẳm, sắc bén, ăn sâu vào lòng du khách. Cái khuya lạnh lùng vây bọc.
Nhưng ngàn đời vẫn không thể mất đi vẻ thơ mộng, hữu tình và tràn lan quyến rũ...

_ * _




-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 07:07:29 Dec 09 2008 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL
NOEL RỒI ĐÓ Ư?!



Ồ! Chẳng lẽ... Noel đã về rồi đó ư ?
Người ta hân hoan, ríu rít, xôn xao ân tình, gửi cho nhau quà giáng sinh, cánh thiệp nồng ấm, thắm thiết tình người. Đối với Hoài, Noel không còn nữa, như Nhất Tuấn đã có bài thơ: "Mimosa Thôi Nở" Trong đó có những câu thơ Hoài rất thích:
NOEL xưa anh nhớ:
Khi hãy còn yêu nhau
Nhà thờ nơi cuối phố
Thấp thoáng sau ngàn dâu
Anh chờ em đi lễ
Chung dâng lời nguyện cầu
MIMOSA, MIMOSA, bừng nở …
Ðẹp như tình ban đầu
Mới bốn mùa thu qua
MIMOSA, MIMOSA, vẫn nở...
Sao mối tình đôi ta
Ai làm cho dang dở?
Đêm nay Noel đây,
Nhưng em không về nữa
Ðường khuya mưa bay bay
MIMOSA, MIMOSA, thôi nở …
Trong hồn anh đêm nầy …
Tháng ngày thấm thoát trôi qua nhanh, như bóng chiều câu qua song cửa. Thế là năm mới sắp đến rồi. Mới ngày nào Hoài "bị đưa lên xe về Huế", bây giờ cũng nhằm vào tháng chạp đây. Tháng ngày trôi qua nhanh, cho mình nếm trọn đủ, nỗi niềm cay đắng, đớn đau. Cùng cực buồn nhớ, thầm lặng, sao Hoài chẳng hết ngẩn ngơ lòng! Điệu buồn êm nhẹ, hẫng trên hàng mai vàng lốm đốm khoe sắc. Nắng cuối đông sót lại, nét hoen sầu, rả rích giọt mưa phùn bay bay.
Hoài thấy nhớ những cánh thiệp tươi mầu dưới đáy va ly, nàng muốn mở ra xem một lần, một lần rồi thôi. Chao! Nào có ích gì? Bạn bè chẳng có ai, nhất là "anh ấy" chắc hẳn đã quay về hướng khác; có nghĩa lý gì, chuyện tình trẻ dại hôm xưa. Hoài rất yêu bài thơ dài của Triều Hoa Đại, trong đó có câu:
Nửa bước em về, chiều nay tư lự.
Nửa bước em về, ngày xưa tháng cũ.
Bước đi bây giờ làm sao lam lũ!
Bước đi bây giờ buồn thế sao em!?
Ở tình bạn, cũng như ở tình yêu, có điều gì mong manh, chơi vơi, xa xăm, lẻ loi, khiến Hoài thầm nhớ khôn tả. Cuộc đời mình, như một hoang đảo ngoài khơi chói nắng, quanh năm toàn thấy đại dương mênh mông, bát ngát. Con tàu, lục địa, bờ biển, thì ở xa -rất xa- Tất cả dừng chân lại nghỉ ngơi, thân ái nồng nhiệt, (đôi khi có phần ích kỷ và ganh tị, nhưng họ tươi cười về sự phản bội đó) giây lát, rồi lặng lẽ nhổ neo đi. Hoài không giận, vì cho đó là sự kiện không quan trọng. Tình bạn non đời, sống có chiều rộng, nhưng chưa có chiều sâu.
Do vậy tình bạn dễ chịu, tình cờ, đơn sơ, như một túp lều, muốn cất lên bên sườn dồi, dưới rặng tre xanh, bên nương sắn, cạnh ao bèo, đặt nơi nào cũng được. Nó không phân biệt giai cấp sang hèn, học thức thấp cao. Chính vì thế, nó mong manh, dễ tan vỡ, chẳng mang vết buồn đau thầm nhớ da diết!
Hoài quan niệm tình yêu chân thật, thường kết thúc bằng cánh thiệp hồng, báo tin vui. Vì thế, họ cần nhiều dụng cụ, xây dựng nền móng gia đình, có mái nhà, hạnh phúc bền lâu. Mà, chính thân Hoài còn thiếu nhiều thứ. Kể cả tuổi đời. Kiến thức. Trí thức. Tiền tài. Kinh nghiệm sống.
Cô Ba Thuận năm nay ngoài bốn mươi tuổi, cùng bạn là cô Nga, hai cô bạn già suýt soát tuổi nhau, thân thiết dịu dàng rất mực, sớm đi mỗi người một ngả, tối về chung nhau một phòng. Họ là hàng xóm của chị Huyền. Cô Thuận qua chơi nhà, xin phép chị Huyền cho Hoài đi phụ cô, trông coi cửa tiệm. Cô cười:
- Tiền! Tiền! Có tiền mua tiên cũng được. Hết sẫy! Chị đồng ý cho em Hoài, ra ngoài xã hội vui vẻ, thi thố "tài lăng" bé nhỏ mí đời, chị nhé!
Đại lộ Hùng Vương ồn ào, nhộn nhịp, tấp nập, đông đúc, người người chen lấn đi mua sắm tết. Cô và Hoài bận rộn, suốt từ sáng đến tối chưa kịp ăn cơm trưa, bán buôn không ngơi tay. Nhưng Hoài cảm thấy vui, và hoà mình theo lòng phố thị huyên náo, không gợn chút ưu phiền.
Trong tiệm chỗ tụm năm tụm ba, người mua cái nầy, người mua cái nọ. Hai người lăng xăng rối rít, bán không ngừng tay. Bận rộn quá chừng. Bốn giờ chiều, hai chị em chia phiên nhau, vào góc phòng ăn cơm trưa, chứ đói chịu không nỗi. Nhà hàng mang cơm phần đến, từ mười một giờ trưa, thức ăn đã nguội, mỡ đóng váng trên mặt. Hoài ăn chẳng ngon lành, vì mệt quá.
Ngày thứ nhì, trước khi đi làm, Hoài ghé tiệm ảnh Phụng Ký, ở đường Đồng Khánh, lấy mấy tấm ảnh. Buổi tối về nhà, Hoài kinh ngạc, khi nhận được thiệp xuân của Phú, Đông, chị Hạnh, và vài người thân. Phú giới thiệu Đông gửi thư cho Hoài, (Hoài không quen biết Đông). Thật quá lạ. Phú nghĩ gì về Tôi? Tự thâm tâm, có nhiều điều quá đắng cay, đau buồn, đến nỗi Hoài không nhớ mấy về ai, và quên mất là mình đã quen thân Phú.
Mừng rỡ cầm mấy phong thư vào phòng bật điện, Hoài ngồi lên giường, mở thư Phú ra đọc trước tiên. Phú cho biết khi đậu tú tài toàn, đã nhập ngũ, nay anh làm việc tại Biên Hòa. Phú đi nghỉ phép ở Đà Lạt, Phú đến thăm chị Khánh, và xin điạ chỉ Hoài.
Thoáng thời gian ngắn ngủi qua nhanh, Phú có biết bao thay đổi, hứa hẹn ở tương lai. Còn ta? Mình không có gì, ngoài mớ đau thương chất chồng, bao khốn khó quằn xiết lấy tấm thân mảnh dẽ, với cuộc tình đầu gãy đổ, trên hai bàn tay trắng, và tấm bằng không làm cho đời sống riêng mình tươi hơn.
Hoài thấy có cái gì sắt cạnh, đâm sâu trong lồng ngực vở vụn ra, đau nhói. Một cái gì tê buốt, bàng hoàng. Mà, trước kia nàng tưởng là, không có ai, có thể bóp nát trái tim đầy tin yêu nầy. Thuở xa xưa ấy, Hoài gặp Phú, quen và nếu... yêu Phú, có lẽ đời mình bớt gian truân, sóng gió! Thuở đó, trái tim Hoài như cuộn giấy trắng tinh, chưa thâu nhận bóng hình ai. Hoài thấy Phú đẹp trai, phong nhã đa tình, và, sao mà lãng mạn, lả lướt quá đi! Hoài sợ.
Ngày thứ ba, hai người rảo bước trên phố thật sớm. Hoài mặc áo lạnh lông xù màu cánh sen, cổ quàng khăn voan màu tím hoa sim, quần tây đen, mang giày bít. Má mua cho Hoài đủ mọi thứ cần thiết, từ đồng tiền lao nhọc của gia đình. Hoài vui lạ! Có ai từ nhỏ đến lớn, không có năm bảy lần, mặc áo mới đẹp nhất, khi họ đã đi qua hầu hết quãng đời mình, mà không vui thích mỉm cười, không nhỉ?
Tiệm đông nghẹt khách mua hàng. Hoài đứng sau quầy, niềm nở cười cười, vui vui, bán bán, trao trao. Bất ngờ và quả thật rất tình cờ, Hoài nhìn theo mãi, người con trai ngồi sau chiếc xô lếch, do bạn chở. Họ đã chạy vòng lui vòng tới, bốn năm lần trước cửa tiệm. Nhìn vào tiệm, họ cười hoài. Hai anh chàng cứ thích cánh, liếc mắt đưa tình, cười đùa với nhau. Chưa dám dựng xe, vào trêu ghẹo con bé áo tím, mặc cô Thuận đon đả mời chào và, sẽ nói huỵch toẹt ra, nếu ai có ý lã lơi với nàng, khiến khách đỏ mặt, mà bước nhanh. Tính cô thẳng như ruột ngựa là gì!
Chàng thanh niên ngồi sau lưng bạn, có dáng dấp thư sinh, mày rậm mũi cao, trắng trẻo, thanh tú, đôi mắt sáng ngời, đẹp như mắt chim phượng, khuôn mặt càng xinh trai hơn, với đôi má lúm đồng tiền sâu hoắm, nụ cười tươi mát đến ngã lòng người, chiếc răng khểnh, khép nép bên khóe môi hơi hồng hồng. Chàng nhìn Hoài đăm đăm, anh quay lại tươi cười, vẫy tay với mình nữa kìa! Ôi Lạy Chúa! Quả thật, họ đã để ý đến con người tội nghiệp nầy rồi!
Dựng xe trước cửa tiệm, họ vào mua mười hộp mứt, năm lố thuốc lá 555 International, hạt dưa, rượu Martin. Hộp quẹt. Dao cạo râu. Dây nịt đủ kiểu. Dép đàn ông mang trong nhà. Hai mươi áo thun trắng, mỗi cặp có hiệu khác nhau. Quần soọt cũng vậy. Trong khi Hoài gói hàng, cô Thuận loay hoay soạn giỏ xách nhựa mới, hào phóng tặng họ, để mang quà về.
Chờ Hoài ngẩng lên, chàng thư sinh Bắc Kỳ đẹp trai ấy, lại khoe má lúm đồng tiền, chiếc răng khểnh, đá lông nheo "kịch kịch" với nàng vài cái, mới chịu ra về.
Hoài mắc cỡ, vội vàng cúi xuống tủ kính, vờ xếp lại đồ đạc bên trong. Hoài "không có đồng tiền nào" làm sao dám khoe với ai! Ơ hay! Lại gật đầu, vẫy vẫy tay chào thân thiết, nheo nheo mắt ướt. Hai anh to nhỏ điều gì, khúc khích cười mãi nữa kìa!
Hoài thấy vui, khi cô Thuận qua nhà đưa tí tiền. Nửa đùa nửa thật, cô nói:
- Em Hoài giúp tôi mấy hôm nay, thú thật, đỡ đần tôi rất nhiều. Chị và em đừng ngại gì sớt. Mỗi ngày, tôi trả em năm chục đồng, còn nửa tháng cuối, mỗi ngày một trăm, vì sẽ thức khuya bán chợ đêm. Ăn uống tôi lo hết. Vất vã đấy. Ra giêng, nếu em còn ở nhà, giúp tôi bán hàng, mỗi ngày dăm ba chục. Chỗ chị em, tôi hay nói thẳng, chị Thương và em Hoài, không giận tôi nhá.
- Em ở nhà, chưa có việc làm, ra giúp cô cho vui. Chứ tiền nong gì. Cô.
- Ấy chết. Ai lại thế bao giờ. Chị biết không? Hoài có duyên bán hàng ra phết nhé. Tiệm đắt hẳn lên. Hôm nay có mấy cậu vào mua, hỏi đến đâu mua đến đó, chả mặc cả gì sớt. Buôn bán chỉ trông chờ khách xộp, điệu nghệ thế chứ. Tôi nhờ hai cậu ấy, ra Giêng mở hàng khai xuân đầu năm. À, nhớ cho em Hoài đỡ tôi, một tay nhá.
- Việc đó tùy em tôi thôi. Đôi khi nó không thích, làm sao tôi dám hứa.
Liên tiếp mấy hôm sau, hai chàng trai thả bộ trên phố, rồi vào tiệm cô mua cái nầy, lúc mua cái nọ. Có lần, “anh chàng đẹp giai” nhờ Hoài chọn hộ cà vạt. Hoài biết chàng ăn mặc lịch sự, tươm tất, lẽ dĩ nhiên sẽ chọn đúng thời trang, chứ mình có tài cán gì, mà chọn! Chẳng qua chàng muốn gợi chuyện làm quen. Thế thôi.
Hoài thấy sợ! Mặc dù quen, với tính cách là người khách mua bán hàng quen thuộc. Có thể chỉ là bạn, là anh trai, hơn hẳn mình về tuổi đời, kinh nghiệm sống. Không thể đi xa hơn. Hoài như con chim non lìa đàn, sớm bị thương, nay đậu cành mềm sợ gãy cánh. Sợ cơn đau buồn điếng lặng khác ập đến.
Nửa tháng cuối năm, chiều nào cũng thế, chỉ còn một mình chàng thơ thẫn, solo trên phố, như chờ đợi ai. Sau đó, chàng tạt vào tiệm, phụ cô Thuận treo đồ đạc khách chê, vứt bừa bãi trong góc phòng. Một hai giờ khuya, chờ cô dọn dẹp xong, chàng mời chị em đi ăn. Gì chứ về cái món ăn uống "chùa", khỏi chi địa, cô Thuận khoái khẩu, vui vẻ hẳn lên. Chuyện gì cũng tốt, nhưng việc tiền nong, thì ... "Tôi là Bắc Kỳ dón, vắt cỗ chày ra nước, mà lị". Cô Thuận vẫn nói thế, với ông chủ cho thuê nhà.
Có người khách không mời, bỗng dưng ngày ngày đến giúp một tay, chả mất tiền công, lại được việc. Ảnh còn hào phóng mời nhiều bữa ăn tối, ăn khuya, hậu hĩ quá chừng. Họa có mà điên hay sao, cổ không nhận lời. Chuyện trò vui vẻ "thoả mái" thế nào ấy. Vui vẻ tử tế quá đi. Đôi khi, cô Thuận cũng mời lại "con người tốt bụng" tô bún bò giò heo, hoành thánh mì, chén chè, đĩa xôi. Vã chăng, cô Thuận thấy ăn hoài của người ta, nó hơi kỳ kỳ, ngượng ngùng sao ấy!
Vì phép lịch sự, Hoài vờ lắng nghe chàng giới thiệu tên, nhưng không rõ tên gì. Hoài nhút nhát không dám hỏi lại, e bất lịch sự. Sợ chàng nghĩ mình điếc, thì buồn năm phút. Hoài đi theo họ như chiếc bóng âm thầm, chẳng mấy khi chuyện trò, khiến cô Thuận nhăn mặt, nói nhỏ bên tai Hoài:
- Người đâu mà kém xã giao đến thế. Sao em ngu tệ. Chả biết.
Trời đất ơi! Cô chê con nhà quê, vừa thập thò ra ngưỡng cửa thành phố đó. Thế, cô tưởng Hoài "ngây thơ vô tội" chưa biết trộm yêu, thầm nhớ và đau khổ ấy chắc?
Hoài ngập ngừng gượng gạo cười nói, như gã hề đeo mặt nạ méo mó, trông thật kỳ. Lúc còn lại hai người trước cổng nhà, cô ân cần nói:
- Cậu ấy là người khá lịch sự, dễ thương, đứng đắn, em nên vui, cười một tí nha. Suốt buổi ăn, em xụ mặt xuống, trông thật khó coi, bất lịch sự đấy. Nhớ nhá!
Hôm sau, quên lời cô dặn, Hoài vẫn lặng thinh, cô Thuận húc một cái vào hông. Giật mình, Hoài vội nhăn răng ra, cười rõ tươi. Trong khi chàng bình luận chuyện chính trị đứng đắn, không có gì vui, cho nàng cười, như reo thế.
Ngạc nhiên, chàng im bặt nhìn Hoài. Có lẽ chàng cho Hoài có dòng máu khùng khùng, lãng lãng, điên điên, chi đó.
Cô Thuận quay sang Hoài, bấm vào đùi em, nói nhỏ:
- Đừng có dỡ hơi thế chứ. Im nào!
Nỗi buồn xưa quanh quẩn đâu đây. Đêm đêm, giấc mơ hoa lảng vảng bay trên đầu cây ngọn cỏ. Không! Hoài chẳng muốn gợi nhớ, dù kỷ niệm nhỏ nhặt, gợi lên hình ảnh cố nhân. Em không muốn, cùng "chàng" sánh bước vui vẻ trên đại lộ khuya, làm bừng sống giấc mộng bạc bẽo nơi người con gái, trước ngưỡng đời hụt hơi, đến đắng cổ.
Mùa đông cũ trôi tuột mất rồi, chẳng bao giờ tìm thấy nữa! Thời gian và không gian, chìm sâu từng ngày, từng ngày vào kỷ niệm. Hoài đã đi từ Ña Laït, xuôi qua mọi miền, về vùng trời Hội An, Huế, Mỹ Chánh, Quảng Trị, La Vang ra tới Bến Hải. Đi thênh thang giữa lòng đô thị Đà Nẵng. Có thể suốt đời, Hoài vẫn nhớ nhung, nâng niu, trân trọng giữ gìn kỷ niệm, dịu êm một thuở.
Còn Hoàng? Kỷ niệm đó, thoáng mắt nhớ nhung đó, nụ cười đó, không gian và thời gian ngày cũ, có in bóng dáng Hoài trong tâm tư Hoàng? Theo Hoàng đi đến chân trời góc bể, nơi Hoàng đã sống? Hoàng vui? Hoàng buồn? Có mòn mõi, khát khao nỗi nhớ niềm mong, hay đã quên hết rồi? Hỡi anh!
Đám bụi dày bị cơn gió đông cuốn hút theo cuồng quay, khiến khách bộ hành phải quay lưng lại, đi thụt lùi, hai tay che mặt, đầu rụt sâu vào cổ áo lạnh kéo cao. Hoài đi giữa lòng phố thị, nghe đì đùng tiếng pháo đón giao thừa, nổ liên tục từ mọi ngỏ nhà.
Người ta vội vã, hấp tấp quét dọn sạch sẽ, những ụ rác to tướng, đổ trên xe chở rác, ở ngả tư, ngả năm đường phố. Họ lau chùi nhà cửa, bàn ghế tươm tất. Chuẩn bị tiễn đưa năm cũ, hân hoan nồng nhiệt, vui vẻ đón chào năm mới tưng bừng, háo hức, trên những cành mai vàng tứ qúy, nở hết cánh.
Hoài âm thầm, nhỏ bé, như loài hoa cỏ may tầm thường, mọc bên lề viả hè, trong thành phố xa hoa. Bao lo âu, buồn bã, nhớ nhung, làm úa vàng ngăn kéo kỷ niệm vàng son một thuở...

_ * _



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 07:37:55 Dec 17 2008 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL

Phiêu Lãng Tình Trần




Bầy dế reo hoan ca hát trong đêm muôn trùng, chúng quay cuồng bay lượn, và bu quanh trên những ngọn đèn đường vàng vọt trước cổng nhà. Vòng bay mỗi lúc một nhanh. Khi chúng bay toả rộng ra, khi thì thu nhỏ lại, rồi bất thần rơi phịch xuống đất.
Con cánh cam có lớp vỏ cứng bóng láng, ánh lên màu biếc xanh trông rất đẹp, từ đâu bay vù vù vào bên khung cửa kính. Ngay chỗ tôi đứng. Nó xòe đôi cánh, bên trong lộ ra hai cánh nâu mỏng te, có nhiều sợi gân nổi lên trên lớp vỏ mềm mại, xinh xinh khéo léo khép dần. Nó đập đầu vào ô cửa nghe kêu cái cộp. Tôi mở cửa sổ ra, len lén bắt con cánh cam, và cúi xuống nâng niu trong hai bàn tay khẽ khàng bụm lại.
- Thụy! Làm gì mà ngẩn ngơ ra vậy? Em?
Giật bắn người khi nghe Cảnh gọi, tôi bàng hoàng nhìn ra đường tìm kiếm anh trong bóng đêm mà run run. Cứ tưởng người đứng dưới cánh cổng cao dày kia là kẻ trộm. Con cánh cam vuột ra khỏi tầm tay tôi, nó bay đi mất dạng.
Những giọt sao đêm Noel qua ô cửa lấp lánh, như nghiêng mình vẫy gọi tôi bước xuống lầu. Tôi đi trên lớp sỏi trắng, dọc theo khu vườn hoa thắm đẵm sương đêm, để đến cổng ngoài mở ổ khoá cho chàng vào. Tôi ngỡ ngàng chào Cảnh. Anh nhìn tôi mỉm cười do dự giây lát, rồi e dè hỏi:
- Trong nhà đi lễ hết rồi sao? Em!
- Dạ. Chẳng còn ai.
- Anh đến bất ngờ. Xin lỗi em. Em dám ở nhà một mình?
- Sao lại không.
- Ghê ha.
- Lẽ là… người thì xa lạ. Còn ma quỷ thì cũng sợ em luôn. Chúng chả dám tới đây quậy phá.
- “Yên hùng” hơn anh rồi.
Tôi cười tít mắt, cùng anh bước vào phòng khách. Tôi trêu ghẹo Cảnh:
- Anh thì… không sợ gì bằng… sợ bị ký củ ngày thứ Bảy, Chủ Nhật. Nên anh thấy em “yên hùng” hơn anh. Ha.
- Em nhảy dzô trong tim đen của anh rồi còn gì…
Tôi cười, nụ cười ngọt hơn mía lùi. Cảnh ngồi vào chiếc ghế bành da. Tôi loay hoay chút xíu trong bếp, pha cho anh ly cà phê sữa bốc hơi nóng thơm phức.
Cảnh mồi diêm hút thuốc. Anh nhả khói thuốc thành từng vòng chữ O uốn khúc bay lượn lên trần nhà. Dường như anh gắn chúng với dòng suy nghĩ, đắn đo nào đấy.
Bưng ly cà phê ra đặt trên bàn, tôi mời anh. Tôi lại trở vào lấy hộp bánh ra, rồi ngồi xuống ghế đối diện. Chúng tôi cùng nhìn nhau mỉm nụ cười vu vơ. Tôi làm cho anh hai miếng bánh mì kẹp ba tê. Tôi cũng ăn lát bánh mì mềm phết bơ. Bất ngờ tôi nghe anh nói:
- Ngày lễ trọng đại, vui vẻ đến thế nầy, mà em không đi chơi đâu sao?
- Biết đi đâu bi giờ! Anh!
- Anh được trường cho phép đi ra ngoài phố. Nên cố ý đến thăm em, mà anh cứ do dự và lo lo, thắc mắc riết. Anh đi qua đi lại ngoài đại lộ nầy, mấy vòng rồi. Anh thấy nhà tối đen, ngỡ là không có ai ở nhà. Nào ngờ có em. Vui quá và may thật.
Bây giờ tôi mới để ý thấy trên góc bàn tròn, có gói qùa nho nhỏ thắt nơ đỏ. Cảnh để xuống đó từ lúc nào.
- Em cũng bất ngờ và cảm thấy thú vị.
- Anh có món quà mọn nầy, gửi tặng em.
- Anh đến thăm em, dù bất ngờ nhưng em vui rồi. Kèm theo quà bánh làm gì anh.
- Em vui là anh mừng húm.
Tôi mỉm cười nhìn Cảnh giả vờ trợn mắt rồi nheo nheo mắt lại. Cảnh cũng không vừa, anh đá lông nheo kịch kịch. Chúng tôi cười to.
- Thụy nghĩ sao về việc chúng mình được quen biết nhau?
- Được quen biết nhau?!
- Chính thế.
- Nếu anh nói “được”, thì em phải trả lời “rất hân hạnh”. Còn anh nói “bị”, thì em thành thật trả lời “không có chi”.
- Một câu đáp lễ sâu sắc.
- Còn anh, anh nghĩ sao khi hỏi em câu đó?
- Sau bóng mây đen cùng cơn gió lộng, sẽ có trận mưa dầm mà ấm áp mát mẻ, như trời Đà Lạt luôn trong lành thoáng mát ấy em mà.
- Chưa hẳn thích.
- Bởi vì chưa quen. À... Ngày mừng Tết Dương Lịch, anh xin có nhã ý mời em vào trường Võ Bị dự buổi dạ tiệc.
- Sao anh lại mời em? Em thiết nghĩ chị Dung, bạn ấy thân anh hơn em nhiều.
- Thân không có nghĩa là thương. Thương lại chưa hẳn là yêu. Nhất là Dung kia không phải là Ngân Thụy nầy.
- Em chiu thua.
- Như vậy, có nghĩa là em từ chối khéo?
Tôi cười cười, vui vui nhìn Cảnh giả lả:
- Anh nghĩ sao về việc em vừa nói?
- Dễ thương đến thế là cùng.
“Dễ thương” theo nghĩa của Cảnh nói, khi vang lên nghe hay hay thế nào ấy! Nó ẩn chứa cái gì đó vừa hờn mát trách yêu, lẫn dịu ngọt ân cần vẫy gọi nhau thân thiết. Như tiếng nước suối giao hoà rì rào, se sẻ chảy qua bờ bụi lau lách. Như vết điêu khắc thần tiên sống động của nghệ nhân tài ba tạt trên đá. Không có nét “dễ thương” thì bức vẽ sẽ vô cảm, vô hồn.
Tôi không thể dễ dàng, tự do, nhanh chóng đường đột nhận lời Cảnh đi vào trường Võ Bị ngay. Vì; Đây là lần đầu tiên tôi trực diện Cảnh, cùng trao đổi chuyện trò, với người thanh niên mới quen biết vài tháng trước, trong căn nhà vắng lặng đến rợn người và khuya khoắt, hoang sơ thế nầy.
Chúng tôi ngồi nói chuyện về gia đình cha mẹ anh. Tôi cũng nói về gia đình cha mẹ, anh chị các cháu của tôi. Chúng tôi vui cười về vài sự kiện nào đó. Tếu tếu với nhau những câu vớ vẩn, không thân mà chả nhạt.
Đêm về thật sâu lắng. Sương muối hạt mọng tròn tròn lung linh là đà rơi đầy trên thành phố trầm lặng mà huyễn hoặc, nên thơ thi vị và mơ mòng. Cái lạnh xoáy buốt se se thịt da mà ăn sâu vào lòng người, theo từng bè mây trắng xoá bay bay về cuối đồi. Gió lồng lộng lũ lượt thổi qua vườn thông sau đồi nhà, nghe lao xao, rì rào vi vu bất diệt.
Bầu trời tỏa lạnh cùng khắp mạch núi rừng hoang dại. Nhạc thông reo vi vu. Mây phiêu lãng cuộn thành từng lọn trắng, bồng bềnh nhấp nhô lờ lững trôi trên không trung tan loãng sương mù. Phố núi chìm sâu xuống giấc mộng đào nguyên muộn màng, nhưng đầy thi vị và hữu tình.
Từ giã tôi, Cảnh ra về và anh tạm nghỉ nhà của anh chị bạn, ở ngoài Phan Đình Phùng. Chuông giáo đường rộn ràng ngân vang, báo hiệu giờ tan lễ nửa đêm Noel.

_ * _

Ái Ưu Du



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 15:04:41 Dec 28 2008 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL
Tình Nhẹ Như Mây




Cuộn mây trắng gợn nơi lưng trời sáng bạc thêm óng ánh, mây lững lờ trôi về chân núi Lâm Viên. Từng đàn chim én thoăn thoắt chao liệng trên không trung. Chúng bay bướm vẽ những đường cong khá lả lướt, ngoạn mục; ríu rít rũ gọi nhau về mở hội ngày đầu một năm mới ở hiên ngoài. Nắng ươm hồng trên những cánh lá nhung lam mông mốc mươn mướt, rung rinh từng chùm phấn mimosa vàng e ấp run run sau vườn nhà, hoa tỏa mùi hương thoảng nhẹ dù hăng hắc; nhưng tôi lại ưa thích.
Cảnh đến thăm tôi vào trưa chủ nhật đầu năm mới. Chàng thản nhiên gỏ cửa phòng riêng, khi tôi đang ngủ trưa. Chàng cởi tấm áo quân-phục Sinh-viên Sĩ Quan Võ Bị mùa xuân ra, anh máng lên lưng ghế dựa; quần tây thẳng nếp ly, giày đen bóng loáng. Cảnh đeo cà vạt đen lủng lẵng trước ngực áo sơ mi trắng ngần, thẳng nếp hồ ủi. Gương mặt Cảnh toát lên một vẽ gì độ lượng mực thước, chững chạc dịu hiền. Ân cần mời gọi mà lại thẳng thắng và oai dũng trang nghiêm.
Thắng Cảnh: Dáng người to to, cao cao. Mái tóc quăn quăn cắt ngắn, ép sát vào gáy, tạo cho anh thêm phần hiên ngang, đỉnh đạt. Dưới vầng trán rộng và cao, là cặp lông mày rậm nhưng đôi mắt không dữ dằn. Trái lại an hoà, rất to và đẹp, hàng mi cong cong, miệng rộng, nụ cười tươi với hàm răng trắng bóng khá đều. Mũi lân to bè khoan khoái, làn da nhuốm phong trần, làm cộm lên trong tôi niềm thương thương, dạt dào trìu mến hay hay sao sao ấy.
Cảnh cười cười:
- Hồi tối em đi ăn trộm ở đâu, bi giờ ngủ say quá vậy. Em?
Vào toilet rửa mặt, tôi khúc khích cười, nói vọng ra:
- Ấy! Em “dừa” mới “dô” trong “Dõ” Bị, “z…rinh” anh “dìa” nè. Anh hổng thấy sao!
- Khỏi cần rinh anh. Anh cũng phải đến. Vì Ngân Thụy đó.
- Ơ! Vì em?
- Chúc mừng ngày đầu năm mới và… happy birthday em đúng mười chín tuổi, nửa tháng và ba ngày.
- Trời! Anh còn tính kỹ hơn cả em nữa.
- Có những điều… chính mình chưa nghĩ đến. Có thể người khác đã nghĩ thay cho rồi.
Đến bên cạnh nâng tay tôi lên, Cảnh đặt hộp quà to tướng vào lòng bàn tay tôi mát lạnh. Tôi ngỏ lời cảm ơn chàng, và khệ nệ bưng tới bàn từ tốn mở ra. Quyển “Đắc Nhân Tâm” của Dale Carnegic. “Cách Mạng Con Người” của Kirishnamuti. “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” của Alexandre Dumas. Hộp kẹo dâu thơm ngon. Nhưng còn bức tranh lụa của Tạ Tỵ, như gợi lên lòng tôi bao nhớ nhung. Mỉm cười chỉ bức tranh, tôi hỏi:
- Sao anh thích bức tranh nầy?
- Hôm trước đi xem triển lãm, anh thấy em đứng ngẩn người, biến thân vào cả cái nhìn. Anh cho rằng: em thích bức tranh hoàng hôn bên suối, mà hoạ sĩ đã ghi lại rất thần bút. Phải không nào!?
Quả thật bức tranh quá sinh động, tuyệt vời. Phong cảnh hoàng hôn chiếu trên bãi cát ươm vàng bên suối mơ màng, trông rất đẹp. Trải tranh lên bàn rộng, thuận tay Cảnh ghi lại hai câu thơ của V.S. Yeats:
Dưới chân nhau, ước mơ ta dàn trải
Hãy êm đềm nhẹ bước, kẽo mơ phai.
Cảnh xuống lấy đinh búa dưới garage lên, anh lúi húi đóng đinh, rồi treo bức tranh trên tường:
- Treo thêm bức tranh nầy, trong phòng của em có vẽ sinh động lên đôi chút. Chứ không thì coi căn phòng của em quả là buồn. Ha em.
- Anh chu đáo lắm. Cảm ơn anh.
Cảnh cười, ngồi lên mép chiếc bàn vừa trải tấm tranh. Chân phải chàng gác lên ghế dựa, một tay chống ngang hông, một tay cầm điếu thuốc lá. Chỉ khung ảnh bỏ trống và lọ hoa hồng héo tàn từ lâu quá lâu. Cảnh tỏ ý ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi:
- Hư vô trong khung ảnh nầy ư!?
- Vô duyên như Thụy, thì làm gì có “ảnh” đối diện chứ.
- “Ảnh” có hai nghĩa chính: “Ảnh” có nghĩa là tấm hình, tấm ảnh. Và, theo tiếng nói của người miền Nam, thì còn có nghĩa là “anh ấy”. “Nhà tôi” hay “ông xã” đó Thụy à. Còn khung ảnh ở trên bàn nầy, chưa có hình. Có nghĩa là em chưa chọn một “ảnh” tâm đầu ý hợp, để lộng kiến mà ngắm nhìn. Phải không em?
- Dạ. Anh muốn hiểu sao thì hiểu.
Sau cơn bão lòng hấp hối gần kề vực sâu, tôi thường có trạng thái vật vờ, trôi từ hiện tại về quá khứ và lơ lửng vào hư vô. Tôi đã im lặng đóng khung đời mình mấy chục tháng câm nín không cùng. Vết rạn lớn nhất làm hỏng đời mình, đó là: Đam mê duy nhất một mối tình, mà tôi nghĩ và tôn “người ấy” lên là siêu sao thần tượng, là lý tưởng cao vời nhất. Nhưng khi biết ra, thì "hoàng tử ấy" giống như cục đá, giống như con heo đất, nếu có chăng chỉ đáng vài đồng bạc nằm trên một mặt ngửa. Thật quá thất vọng.
- Thụy có nghĩ rằng: Nếu em có vài tấm ảnh “chàng trai tập sự làm “Lính của trường Võ Bị” trong tập album của em. Là một thời trang cho mỗi thiếu nữ, làm thi vị hoá cuộc sống hiện tại không? Em?!
- Anh có ý tưởng ngộ nghĩnh ghê à nha.
- Nếu anh có nhã ý tặng em…
- Em nghiêng đầu nói: Rất hân hạnh.
- Không khách sáo chứ.
- Cũng tùy.
Cảnh hồn nhiên lồng tấm ảnh trong khung hình trống để trên bàn. Rồi ra vườn tự tay chàng cắt mấy đoá hồng nhung, Cảnh đem vô cắm vào cái lọ, (mà anh vừa mới rửa sạch và thay nước mới). Anh đến gần bên tôi, tự nhiên đến nỗi tôi cảm thấy như việc anh quen biết tôi coi như thân thiết rồi. Cảnh nhìn tôi mỉm cười, nhẹ đá hàng lông mi dày và cong cong, chàng tình tứ quàng tay qua vai tôi. Tay kia chỉ bức ảnh và lọ hoa:
- Em thấy thế nào?
- Thanh lịch lắm. Anh biết cách cắm hoa.
- Không. Em hãy quan sát anh chứ. Thấy anh thế nào kìa?
- À. Lính oai hùng và khá dễ coi.
- Dễ thương không?
- Không biết nữa.
- Không biết là phải.
- Sao cơ?
- Vì… khi anh đã yêu, thì “Lính Võ Bị ” rất dễ thương.
- À ra vậy.
- Anh muốn xin cùng em, cho “Lính ấy” ở lại mãi trong ngôi nhà nầy. Em chịu không?
- Anh không sợ chứ.
- Sợ gì? Em!
- Đau khổ và nỗi tuyệt vọng.
- Không có gì cản được, khi tình yêu chân thật đến.
- Anh tin như vậy à?
- Hẳn nhiên rồi.
Câu chuyện “tình Lính Võ Bị” chợt đến, làm ngây ngất lòng nhau từ hai phía chúng tôi đã dừng lại ở đấy. Không thân thiết hơn qua vòng tay anh buông hờ trên bờ vai áo len mầu tím hoa sim. Cũng là lần đầu tiên Cảnh mời tôi đi ăn tối ngoài tiệm; trước khi tôi tiễn chàng lên xe taxi vào quân trường.
Tôi đi bên Cảnh kèm theo nhiều vui thích và cảm thấy thật hãnh diện. Đôi má tôi ửng hồng, e lệ nép hờ bên cánh tay chàng. Tôi liếc nhìn thấy người người đi dạo phố, hầu như ai ai cũng quay đầu lại nhìn một kiều nữ thẹn thùng, ăn mặc model, sánh bước cùng một Sinh-viên Sĩ quan Võ Bị tốt tướng. Họ không ngại xuýt xoa khen chúng tôi đẹp đôi.
Từ nay, như đã ước hẹn, thỉnh thoảng Cảnh mới vào nhà (lúc nào bất ngờ, không thể hẹn trước với nhau). Vì cả hai chúng tôi đều e ngại anh chị Tuế la. Ngoài ra, khi nào Cảnh thấy cửa sổ phòng riêng của tôi trên lầu mở; ấy là tôi có ở nhà. Cảnh sẽ dùng “cái còi tu huýt của hướng đạo” thổi lên ba tiếng báo hiệu. (Vì, khuôn viên đất ngôi biệt thự nầy, nằm ngay ở đầu góc của đại lộ Yersin và Pasteur, từ trong nhà ra ngoài sân quá rộng, khá xa. Người ở trong nhà không thể nào nghe tiếng gọi, nếu họ không bấm chuông ở ngoài cổng lớn).
Khi nghe tiếng tu huýt, tôi sẽ hiện ra bên khung cửa vẫy chào chàng. Nhìn thấy nhau rồi. Cảnh sẽ tà tà đi xuống đường Phạm Phú Thứ, và chàng chờ tôi nơi đó. Cái trò chơi “cút bắt” nầy khiến tôi thích thích, vui vui hẳn lên. Thật ra, tôi đã lớn khôn, sắp ra trường và đã đi làm việc, nên tôi có chút tự do, độc lập cho chính thân hay quyết định tình yêu đời mình. Ấy vậy mà… Khi sống chung dưới mái nhà anh chị Tuế. Tôi không muốn Cảnh đến nhà nầy nhiều, dù anh chị Tuế ưa hay không ưa ai, thì có mắc mớ gì! Họ không hề tìm hiểu về tâm tư, tình cảm hay lối sống của người tôi quen biết ra sao.
Vã lại, cá tính của anh rể buồn vui bất chợt. Có khi anh rể quá vui vẻ nồng nhiệt chào hỏi bạn của tôi. Khi nào “trái gió trở trời” ủ dột giông tố, anh Tuế nổi cơn tam bành lục tặc lên. Thì nếu ai đến nhà, có là quan tướng đi chăng nữa, anh rể cũng la, cũng mắng và xua đuổi, anh bất lịch sự chửi như tát nước vô mặt khách. Thì tôi bị quê và người bạn ê mặt quá chừng. Thật xấu hổ!
Còn ý của tôi đã nghiêng về Cảnh hơn vài ba bạn trai khác (bạn đúng nguyên nghĩa). Một cảm tình dành cho Cảnh khá đặc biệt, sâu thẳm từ từ vươn lên trong tâm hồn tôi. Quả thật tình nhẹ như mây, đằm thắm như tơ trời vương trên đỉnh Lâm Viên… Và, Cảnh là người “dễ thương nhất” mà tôi muốn chọn, để bầu bạn. Tâm sự. Chia sẻ hầu xoa dịu nỗi niềm.
Cảnh đọc cho tôi nghe mấy câu sau:
I have bean waiting for you to return.
To this home of yours and hear the enchanting heart,
From spring through summer to chilling autumn.
I have been consistent in keeping my thoughts for you only…

_ * _


Ái Ưu Du



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 20:26:46 Jan 22 2009 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL

XUÂN TÌNH TRÊN ĐỈNH LÂM VIÊN



- Tháng 4 năm 1949 có một hội-nghị đồng thuận bãi bỏ chế độ thuộc địa, do Pháp cai trị ở nước Việt Nam.
- Tháng 5 năm 1950 quốc hội Pháp thông qua dự luật: cho phép hình thành một đội quân Việt Nam; thế nên bước khởi đầu có một số trường quân đội ra đời. Trong đó có Trường Sĩ Quan Việt Nam ở Huế đã chính thức thành lập năm 1948.
- Sau ngày 20-07-1954 khi hiệp định đình chiến ký kết tại Genève, Thụy Sĩ; thì Trường Sĩ Quan Việt Nam ở Huế được chuyển dời lên Đà Lạt. Và, sát nhập vào trường Võ Bị Liên Quân Đặc Biệt của Pháp.
- Ngôi trường Võ Bị Liên Quân Đặc Biệt của Pháp nay đương nhiên phải trao trả lại cho Việt Nam. Đất và Trường rộng mênh mông tọa lạc giữa giáp vùng khu ấp Chi Lăng và khu Thái Phiên. Vì thế, đầu tiên ngôi trường nầy lấy tên là: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Sau nầy trường chính thức được đổi tên trường lại là: Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.
Muốn gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, thanh niên phải có:
- Học lực tú tài.
- Có sức khỏe tốt, tráng kiện, hầu theo học chương trình huấn luyện của trường Võ Bị Đà Lạt. Ban đầu thì sinh viên thụ huấn hai năm. Sau nầy trường Võ Bị Đà Lạt đã tăng thời gian sinh viên Sĩ Quan thụ huấn lên bốn năm học. Bao gồm các bộ môn học như: Văn Học. Quân Sự. Thể Chất.
Gần cổng trường là doanh trại sinh viên, khu Văn Học, khu Bộ Chỉ Huy... Cổng trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt Việt Nam, còn có tên là cổng "Nam Quan" luôn náo nhiệt trong những thứ Bảy, Chủ Nhật, ngày hội, ngày lễ. Tại Cổng Nam Quan trở nên vui vẻ náo nhiệt như ngày hội lớn, hân hoan tưng bừng với bao tà áo dài tha thướt tung bay trong gio lộng. Thỉnh thoảng ở phòng trực trong trường gọi tên sinh viên Sĩ Quan, được phát ra từ trên loa phóng thanh vang vang lên, thì sinh viên Sĩ Quan có tên ấy hớn hở vui vẻ rảo bước ra Cổng Nam Quan: Đấy là nơi "gặp gỡ của tình thương".
Khu doanh trại Sinh Viên ở gồm có bốn dãy ba-ti-măng, có ba tầng lầu. Mỗi ba-ti-măng gồm có hai đại đội sinh viên Sĩ Quan cư trú, hai bên nầy là sân cỏ của Trung Ðoàn. Gần dưới thung lũng là khu vườn luôn luôn đầy hoa và cây cối xanh tươi, do sinh viên góp công sức làm nên, tạo thành một khu vui tươi trông thật ngoạn mục.
Chương trình học gắt gao rất nặng, ấn định có quy củ rõ ràng. Mỗi ngày, sau giờ học đầy căng thẳng trí óc; và sau bữa cơm chiều, là sinh viên có hai giờ: > từ 6 giờ đến >> 8 giờ tối, thì sinh viên Sĩ Quan tự do đi những nơi giải trí tùy thích như: Bên trái là Hội Quán Sinh Viên có nhiều sofa và bàn ghế tươm tất, để cho mọi người ngồi với nhau thoải mái hàn huyên tâm sự; nghe nhạc sống do ban văn nghệ sinh viên Sĩ Quan đảm nhận, hay tập dượt văn nghệ. Hoặc giả sinh viên Sĩ Quan vào Thư Viện đọc sách. Hay sinh viên đi Câu Lạc Bộ ăn uống. Nhóm sinh viên khác đến Hội Quán thụt bi-da, uống cà-phê. Có người đi tới sân sau để chơi bóng rổ, bóng chuyền bóng tròn, bóng bàn, vân vân… Sau đó là giờ tự học. Tiếng kèn 10 giờ đêm là giờ báo đi ngủ. Một số sinh viên khác lo chuẩn bị đi gác. Trường có tám đại đội sẽ luân phiên nhau để đi gác mỗi đêm.
Sau khi các sinh viên Sĩ Quan đi chinh phục đỉnh Lâm Viên về trường; là ngày lễ gắn Alpha cho tân khóa sinh. Các Sinh Viên Cán Bộ đến tại phòng của tân khóa sinh để trao: mũ cát kết, đai lưng màu đỏ, thắt lưng đại lễ, đôi găng tay trắng. “Tân sinh viên Sĩ Quan” sẽ đọc lời hứa: Tôn trọng lá cờ của Trung Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan. Bảo vệ danh dự cuả Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam: "Tổ Quốc. Danh Dự. Trách Nhiệm"; thì khoá sinh ấy mới được chấp nhận đúng là Sinh Viên Sĩ Quan của Trường Võ Bị Đà Lạt.
***
Hôm nay là ngày tất niên. Tôi cùng Thúy Mai, Vân, Lan, Tâm, bao chiếc taxi chạy thẳng vào ngoài cổng Nam Quan của trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt - Việt Nam, thăm bạn thân. Đúng lúc đó, tôi gặp Oanh cùng Biên. Hồng cặp tay Đáo. Thúy Mai và Tiến Tấn ở Phạn Xá, (còn gọi là nhà ăn). Chúng tôi hân hoan khôn xiết, nói cười tíu tít biết bao chuyện buồn vui xếp lớp lăn tăn. Chưa dứt câu nầy, bạn đã hỏi câu kia dồn dập. Oanh chỉ vào bạn trai của cô:
- Oanh đã hứa hôn với Biên rồi.
- Hồng sắp làm đám cưới với Đáo.
- Cả Oanh và Thuận nữa. Ôi thật là vui quá vui.
Oanh mở miệng:
- Nầy Ngân Thụy thì sao?
Tôi cười buồn:
- Oanh có bao giờ ghé qua ngỏ nhà thăm tui đâu, mà biết hỉ!
- Xin lỗi nha. Tại Biên hết đó.
- Thì phải mà. Có bồ, hổng đi đâu là đúng. Thụy chúc các anh chị sớm thành đạt trong tất cả ý nguyện. Nghe.
Họ cười tươi cám ơn tôi với hạnh phúc hân hoan ùa về. Tôi đến điểm hẹn hò với Cảnh. Chàng nở nụ cười hồng rõ tươi và hớn hở đón tôi nồng nhiệt lắm. Trên khuôn mặt, qua ánh mắt Cảnh hiện rõ sự mãn nguyện, khi chàng giới thiệu tôi với bạn cùng khóa. Cảnh hãnh diện vì có bạn gái xinh tươi, hồn nhiên mộc mạc, duyên dáng không thua những bông hồng biết nói khác trong đêm hội tưng bừng nầy.
Cảnh nhẹ nhàng nắm bàn tay tôi nóng hổi, tôi run run như con chim gãy cánh. Nửa ngập ngừng chịu siết tay chàng, nửa tôi toan muốn rút tay về. Đây là cái nắm tay thân tình đầu tiên, từ khi chúng tôi quen biết nhau. Cảnh tinh ý nhìn thấy sự vô cớ dằng co và trầm mặc nơi tôi, chàng cố tìm hiểu nguyên nhân vì sao có sự thay đổi trên nét mặt tôi. Nhưng, tôi sẽ không kể cho Cảnh nghe, (kể cả những người thân yêu ruột thịt), về nỗi buồn đau vô hạn. Dù tôi rất muốn ngỏ lời tâm sự với ai đó, hầu vơi đi nỗi niềm dày vò, cay đắng ấy đang bóp thắt trái tim tôi.
Sung sướng xiết bao, nếu tôi có thể viết lên trời tất cả suy tư của mình, mà có người khác đọc và thông cảm nhỉ! Còn ít ra trong giai đoạn ngắn ngủi nầy, Cảnh là người xứng đáng nắm bàn tay tôi đang run rẩy (vì giá rét?!). Chàng có hiểu phần nào về tâm tư, nguyện vọng, tình yêu của tôi? Chàng có thể lấp được khoảng trống ráo hoảnh trong tâm hồn rét mướt, mà tôi hằng ngất ngây mong đợi cùng "ai đó" xe mộng tương phùng chăng?
Dọc hai bên đường dẫn lối vào chính điện, những sinh viên Sĩ Quan ứng chiến đứng gác rải rác dưới những chòm cây thông cao ngất và tối đen. Họ đội mũ lưỡi trai, mặc áo jacket, quần treillis xanh lá cây sậm, áo quần hồ ủi thẳng nếp. Giày đinh cao cổ ôm hai ống quần thon gọn.
Trên sân, những sinh viên Sĩ Quan thân hình thẳng tắp mặc quân phục dạ hội mùa đông, nổi bậc găn tay trắng nõn, gù vai màu đỏ, dây biểu chương màu vàng, súng dài bồng lên tay, đôi khi tạo ra âm thanh do sắt thép khua vào nhau. Súng lại được vài phen kêu lên đều đặn, rập khuôn lúc bắt chào, khi có những qúy khách vào khu đại lễ.
Đến giờ khai mạc đại hội, thì buổi lễ long trọng được diễn ra tuần tự từng nghi thức bắt đầu và thủ tục cuối đã xong. Trước mặt các khán đài đang trình diễn các phân binh chủng: Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến. Biệt Động Quân. Thiết Giáp. Pháo Binh, diễn hành các xe hoa, vân vân…
Những hàng ghế ở khu khán đài B kêu răn rắc, suýt gãy dưới sức nặng của khách ngồi xem mê mãi. Giàn quân nhạc sống vang lên rộn ràng làm huyên náo góc trời u tịch và giá rét. Tiếng hợp xướng, tiếng đơn ca, đồng ca, làm cho người đứng tuổi nghĩ nhiều về mình, đồng thời hồi tưởng lại quá khứ oanh liệt vàng son một thuở. Làm cho người vào độ tuổi tráng niên tạm lãng quên phiền nhọc, bực bội, lo toan, để ôn tồn thoải mái, vui vẻ hoà đồng với đám thanh niên trẻ trung tuấn tú, phong lưu hào hoa trong ngày hội lớn.
Một số sĩ quan lão luyện tay bắt mặt mừng đi rải rác từng điểm hội, tuổi tác họ khác nhau. Đa số đàn ông có khuôn mặt đượm phong trần, sương khuya gió chiều rắn rỏi, miệng họ ngậm thuốc lá thơm, xì gà, hay ống điếu. Họ mặc quân phục đại lễ mùa đông trông càng khác nhau, lịch lãm oai hùng, phong độ theo mỗi dáng kiểu của từng binh chủng riêng. Họ biệt lập về kinh nghiệm chiến trường, và cách điều binh khiển tướng khi xung trận.
Đó là những cấp lãnh đạo, những cấp chỉ huy, đôi mắt sắc sảo tinh tường, họ giàu kinh nghiệm có bản lĩnh hướng dẫn thuộc quyền. Kiễu dáng họ ung dung thư thả pha chút cao ngạo, một chút bình dị hoà đồng vào cuộc vui chung. Có những bộ râu quai hàm, râu mép, kính trắng đạo mạo, tô điểm cho vầng trán cao, khuôn mặt thêm phần trí thức và trang trọng. Bên cạnh họ là những người thân, các mệnh phụ cùng phụ huynh của sinh viên Sĩ Quan. Nhìn chung quan khách chưng diện cao sang, thanh lịch qua nhiều kiểu cách hợp thời khác nhau.
Thỉnh thoảng vọt lên trời những ngọn pháo bông đủ màu sắc rực rỡ, đủ hình thể khác nhau. Trông rất đẹp khi có mục biểu diễn nhảy dù tiếp theo sau. Biết bao cánh dù hoa bung nở đủ màu bay lơ lửng trên không trung, lủng lẳng nhiều anh chàng Nhảy Dù bay bướm, trông quá tuyệt vời, rất ngoạn mục trên cao tít lưng trời bàng bạc hơi sương, và gió rét căm căm cùng tiếng thông reo rì rào thoảng lại.
Không Quân Việt Nam Cộng Hòa biểu diễn những đường bay quá tuyệt vời với dáng vẽ oai dũng riêng: Bay solo, bay ba, bay năm… bay vòng cung, bay vút lên và bay lộn ngược đầu… Ôi! Đủ thứ đường bay oai dũng mà lả lướt, kèm những làn khói đủ màu vẽ những hình ảnh lạ mắt, kéo dài sau đuôi tàu bay, rồi tỏa rộng trong bầu trời lấp lánh ánh sao. Trông thật vô cùng hứng khởi duyên dáng và ngoạn mục hết biết. Mọi người ngẩng đầu nhìn lên trời cao, mắt họ mở lớn, miệng xuýt xoa trầm trồ, vui vẻ khen ngợi.
Bỗng một tiếng nổ giòn tan xé màn đêm, nghe như tiếng súng cối bắn đi đâu đó. Hay như tiếng lọ thủy tinh gián mạnh xuống nền gạch. Khiến tôi giật nẫy người, nép sát vào lòng Cảnh. Chàng nhìn quanh cũng thảng thốt giây lát, vòng tay Cảnh vội ôm qua thân thể tôi lúc nào, không nhớ.
Mọi người đứng lên đồng loạt vỗ tay và la to:
- Ố!
- Ấy dá dà…
- Tuyệt vời quá!
Họ cười vang, có nhiều tiếng hét to:
- Giao thừa.
- Tiễn biệt năm cũ, chào mừng năm mới.
- Chúc mừng năm mới.
- Mừng xuân đến.
- Tết Nguyên Đán đến rồi.
- Happy new year.
Họ nhìn lên bầu trời sáng rực pháo bông đủ mọi màu sắc và hình dáng. Ồ! Thì ra bây giờ đúng là giờ giao thừa: Súng lớn bắn đi để đón chào dáng xuân hồng thắm ngự trên vạn vật. Chỉ có rứa, mà cũng khiến tôi giật mình mất hồn mất vía, run rẩy! Giờ phút linh thiêng thật trang nghiêm, trân trọng. Mươi phút sau bắt đầu thủ tục khai hội dạ tiệc trong những đại sãnh sang trọng. Những thức ăn bốc khói nóng sốt thơm ngon. Chuyện trò râm rang khắp nơi. Đêm dạ vũ tưng bừng và long trọng đã khai mạc. Họ khoản đãi mọi người đến dự tiệc tất niên "tống cựu nghinh tân". Vui vẻ náo nhiệt tưng bừng biết chừng nào.
Chúng tôi dìu nhau đi trong đêm giao thừa rộn ràng những tiếng pháo nổ rền vang khắp mọi nơi. Người người hứng khởi đón chào năm mới vui ơi là vui quá chừng chừng. Lòng tôi vui thích, say say theo cung đàn yêu thương, ngất ngây với nổi ngọt ngào lâng lâng từ đâu ập đến. Một giao thừa tuyệt vời nhất đời mình. Chúng tôi dìu nhau đi thật chậm giữa khuya muôn trùng, bên tai tôi tiếng pháo rộn rã nghinh xuân tưng bừng. Lòng tôi cảm thấy bình yên vui vẻ kỳ lạ khi bước chân hai người líu ríu đặt lên từng bậc cấp để vào nhà. Trước thềm năm mới, Cảnh êm đềm trao tặng tôi nụ hôn phớt nhẹ trên mái tóc nồng ấm hương xuân đầu năm.
Tôi cảm thấy hạnh phúc len lén nhè nhẹ và lâng lâng đến trong chân tơ kẽ tóc và trong đời sống riêng mình. Tình cảm ấy tuy nhẹ nhàng đơn sơ, mà trĩu nặng ân tình trìu mến, vẫy gọi nhau thiết tha biết mấy. Niềm vui thật ngọt ngào và trong sáng, cùng sự liên đới kỳ diệu của Trời giao hoà tuyệt vời với Đất gợi tình. Giữa muôn hoa ngát hương, cỏ cây hoa lá đâm chồi nẩy lộc giữa thiên nhiên cẩm tú.
Đà Lạt khoáng đãng thi vị nên thơ, tuyệt diệu ươm mộng xuân tình từ trên đỉnh Lâm Viên, êm đềm rót xuống lòng thế nhân niềm vui chất ngất xiết bao!

_ * _

aud



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 10:22:07 Jan 26 2009 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL


Ngày Ây Đà Lạt Đầy Thi Vị…




Du khách thơ thẩn thả gót phiêu bồng trong lòng đô thị tĩnh mịch, phố đêm càng về khuya dường như càng lắng đọng bất tận, yên ắng lạ lùng. Cảnh vật trở nên thơ mộng giữa khí lạnh: sắt nhọn, đã quấn quýt ăn sâu vào lòng người. Đà Lạt càng dễ yêu. Thi vị. Duyên dáng. Thơ mộng và quyến rũ xiết bao khi mùa Xuân bừng dậy nơi nơi!
Nàng thương cuộc đời rộng mở ở tương lai. Thương mái trường xinh xinh xưa có thầy cô, bạn bè quen thuộc thân yêu. Thương lối ngỏ đi về mỗi buổi học tan. Thương thành phố thơ mộng, có hàng hoa anh đào chen cánh những hàng cây xá lị tô điểm vòm trời Cao Nguyên thêm mơ mòng, quyến rũ. Thương biết mấy hồ Xuân Hương xanh biếc, phẳng lặng như phiên gương loáng bạc in bóng sân Cù. Dưới bầu trời trong sáng ban mai, có ngàn nụ hoa anh đào chúm chím mời gọi áng mây bàng bạc pha hồng thắm lững lờ trôi.
Thương mỗi chiều gió mùa Đông Bắc lồng lộng vút trên đỉnh núi cao, có sấm sét ở góc trời lúc choạng vạng, gió uốn cong cành cây mimosa nghiêng ngã thấy mà thương. Thân cây đau đớn rên rĩ vặn mình kêu rắc rắc như muốn gãy. Chùm hoa ướt sủng nước, rên rĩ quật lui quật tới lia lịa. Hòa với tiếng sấm chớp gầm thét dữ dội, gió hú từng hồi kinh dị trên sườn đồi. Gió lọt qua khe cửa rít lên vút vút nghe đầy ớn lạnh, buồn bã đơn điệu vô cùng.
Quê hương của nàng có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa Hè là đầu mùa mưa, trời tháng Hạ vần vũ mây xám, từng cuộn mây bay ngang đầu. Mưa đêm nầy qua ngày tháng khác trên núi đồi cao ngất, ngút ngàn. Vậy mà nàng yêu tháng ngày mưa dầm không biết mệt; muôn triệu hạt mưa nặng trĩu to tròn rơi bồm bộp trên mái tôn. Thỉnh thoảng… lâu thật lâu có kèm theo mưa đá hột to hột nhỏ. Dì cháu nàng thích thú nhặt mưa đá bỏ vào ly, trong khi những nhà làm vườn thấy mưa đá, là họ lo buồn rầu rĩ; vì nó hủy hoại hoa màu tan nát, hư hỏng rất nhiều. Thành phố luôn mờ mờ, nhạt nhòa, ẩn hiện sau làn sương ẻo lả, mỏng manh.
Những cơn mưa lăn tăn li ti vào độ cuối Thu đang chuyển hạt thành nhỏ li ti như bụi phấn, nhẹ tênh, âm thầm lả lơi đậu trên mái tóc lữ hành. Nước ban mai ở các khe đá, suối, hồ, khe, chưa chảy kịp, nước buổi chiều đã dâng lên cao; chảy xối xã về cuối nguồn:
Nào thác Cam Ly, thác Datanla, thác Prenn, thác Liên Khương, thác Gougah, thác Pongour. Nào hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Lãng Ông, hồ Chi Lăng. Suối Vàng, suối Bạc, suối Cát Tiên. Rừng Ái Ân. Đồi Thông Hai Mộ. Thung lũng Tình Yêu, vân vân... Ah! Nào là chùa Sư Nữ, chùa Linh Sơn, chùa Tàu… Và nhà thờ Domain de Marie. Nhà dòng Couvent des Oisaux. Nào gác chuông nhà thờ cao ngất in hình con gà (báo thức trên chóp đỉnh. Dù vậy con gà không bao giờ chịu đánh thức khi mọi người đang bình yên trong giấc ngủ. Nó không biết gáy dù mỗi bình minh hay hoàng hôn, hoặc trong canh khuya mặc lòng). Khi mỗi sáng, trưa, chiều, tối, tiếng chuông luôn ngân nga giữa núi đồi, báo hiệu hừng đông hay hoàng hôn thinh lặng. Trời cuối đông dật dờ cơn say bão còn luyến tiếc len lén mang khí lạnh bay về lấp ló ve vuốt bên thềm năm mới; như trêu nghẹo nàng Xuân. Lạnh! Lạnh kinh khủng! Cái lạnh buốt giá, tê cóng nhức nhối, như muốn bại liệt cơ thể, như điếng cả hồn lẫn xác và ăn sâu vào lòng người. Hai hàm răng tự động run rẩy, va vào nhau lộp cộp. Toàn thân run lập cập, thở không đều nhịp. Mặc dù thế, có làn hơi thoảng lạnh từ cổ họng mọi người bay ra như trêu đùa, chọc ghẹo bạn.
Mùa Xuân năm ấy hoa anh đào tươi nắng rộ nở trên ngàn cây, gió lả lơi đùa với nội cỏ, và nàng thật hồn nhiên vui vẻ lạ thường cùng bạn: Phú, Du, Hạ, Lễ, Tài, họ ở Sài Gòn lên Đà Lạt ăn Tết. Các bạn trai chưa đến Đà Lạt lần nào, ai cũng ngạc nhiên và vui thích, cười ha hả khi thấy mình thở ra thành hơi khói. Đêm đêm ở nhà của ba má nàng, mấy bạn pha cà phê, ăn bánh ngọt, cắn hạt dưa, ăn bánh chưng, bánh téc, uống nước trà thật vui vẻ, thi vị sao đâu. Họ ngồi nói chuyện phiếm trong phòng khách, đến tận khuya.
Có ngày không biết làm gì hơn, là họ bày trò thi nhau nhìn vào mắt. Hể ai chớp mắt nhấp nháy mắt trước, hay cười, là bị phạt uống một ly đá lạnh. Eo ơi! Ở xứ nầy giữa đêm khuya, mà uống đá lạnh, thì lạnh hết biết. Lạnh nổi da gà! Trò chơi gì trẻ con lạ! Chơi đỗ cá ngựa, cờ duyên khóc, duyên cười, quẹt lọ nồi. Vui thật vui. Mấy bạn cùng dì cháu nàng dạo phố đêm. Họ mua thuốc lá, kẹo, bánh, chewing gum, bắp nướng, đi tà tà nói chuyện tếu, đi bộ giáp một vòng bờ hồ Xuân Hương dài ngót sáu cây số. Có khi họ lại vòng lên trường Lyscé Yersin ngắm trăng lá lúa ẩn mình trong đài mây. Đường về khuya lạnh lẽo càng thêm hoang vắng, cảnh vật càng huyền ảo, nhưng đẹp lạ lùng. Sương mù phủ kín thành phố đầy hoa anh đào nở rộ. Thỉnh thoảng lớp mây bàng bạc bay nhanh, lộ ra khoảng trời đêm đầy sao nhấp nhánh, vầng trăng khuyết như con thuyền nhấp nhô sóng nước bồng bềnh trôi đi trôi về. Dăm bảy vì sao sáng hơn, to hơn, vì sao lóng lánh e thẹn quỳ gối bên nhau bẽn lẽn trò chuyện trên bến Ngân Hà.
Nàng, Thùy, các cháu làm hướng dẫn viên du lịch, qua bao thắng cảnh duyên thơ hữu tình, qua bao núi rừng suối hồ mộng mơ. Tình thân hữu lan dần. Nàng nhớ một lần cả nhóm bao taxi, đi picnic nguyên ngày. Tám giờ sáng, xe dừng ở thác Datanla. Họ lần mò đi từng bậc cấp ngoằn ngoèo trơn như mỡ để xuống chân thác, mặt trời chưa thức giấc dưới những vòm cây âm u còn ngái ngủ. Nước từ trên khe đá cao ngất, chảy ầm ầm, dội xuống lòng thung lũng, vỡ ra muôn triệu bụi phấn trắng xóa, quyện với từng mảng sương mờ đục phủ kín bầu trời ban mai nhờ nhờ màu sữa.
Thác Datanla thâm u cheo leo hiểm trở là thế, mà họ quyết leo qua bên kia chân thác. Từ từ leo lên ngọn thác thứ nhì, đứng chênh vênh bên hốc đá chốc lát, rồi tìm cách leo lên đỉnh thác thứ nhất, ở tít mù trên cao, cao ngất. Mặt úp sát vào vách đá, lưng quay ra phía vực sâu, hai tay bám chặt bờ cây, bụi cỏ. Không ai dám ngoái cổ nhìn ra phía ngoài, hoặc nhìn xuống vực thẳm. Một trời giông bão như quay cuồng tít dưới chân ta.
Qua muôn ngàn cây đại thụ, gỗ tạp, gỗ lá rộng, lá kim quý như: cẩm lai, sao, thông hai lá, thông ba lá, chen cánh với mộc lan, tre, nứa, lồ ồ, le, dẻ, lùm cây um tùm gai góc, bờ bụi lóc lở rong rêu ẩm ướt. Cổ thụ cằn cỗi già nua không biết tháng năm, chi chít sợi dây rễ dài lòng thòng, to hơn cườm tay. Loại dây dẽo, dai, chắc chắn, quấn quýt trên cành cao, chạy dài xuống lòng thung lũng mờ mờ, sâu thẵm. Họ tìm dây bám chặt vào đó, mà di chuyển. Tiếc rằng họ chưa đủ kinh nghiệm sống, chưa dám đu dây rừng y như Nữ Chúa rừng xanh.
Leo lên hết chóp đỉnh, thác Datanla khúc khuỷu cuối lòng khe đá, biến thành đầu ngọn thác thứ nhất. Phía bên nầy khe đá, những ụ đất sét, có đá cao lanh, đá quý, quặng boxit, than nâu, ở gần vùng Đạ Đờn, Đạ Tẻh, Đạ Hoai. Hai bờ suối dần dần nở rộng ra; dẫn đến cánh đồng cỏ non xanh mướt trải dài, nhìn mút tầm mắt, thảm cỏ ướt đẫm sương mai lóng lánh. Nhiều giọt sương mọng tròn, long lanh giọt thủy tinh dưới ánh mặt trời yếu ớt ló dạng từ bên kia, đỉnh núi nhọn hoắt muốn chọc thủng từng áng sương bay ngang đầu. Sương từ ngọn lá non trên cao, rơi lốp đốp xuống cành lá mềm mại dưới thấp. Tàng cây cổ thụ mọc chen cánh gần khe suối, ấy là sát rừng hoa qùy chen lấn loài hoa mắc cỡ màu tím lá xanh đầy gai nhọn, thế mà hoa vẫn e thẹn khép chặt hàng mi khi có người vô tình đụng đến.
Hòa tìm cách leo lên cành, hái nhiều loại lan qúy, mỗi loài hoa có một sắc đặc biệt riêng. Mấy chú sóc đuôi xòe ra, như chiếc chổi lông mềm mại, leo trèo trên cây quả chín đỏ. Bầy khỉ lí lắc nhi nhô, chuyền chỗ nầy chỗ nọ nhanh nhẹn, gọn gàng, nhẹ nhàng, chúng kêu chí chóe. Hình như chúng phản đối sự có mặt của con người, không mời mà đến trong giang sơn cẫm tú, đầy bình yên của chúng.
Chim hót líu lo, đủ mọi giọng điệu trầm bổng véo von. Lẫn tiếng nhịp nhàng của bầy chim gỏ kiến, đang đập mõ dài cứng ngắt vào thân cây xù xì, hòa cùng tiếng thác đỗ từ nơi xa xa vọng lại. Thỉnh thoảng tiếng vượn hú kêu đàn. Cú nấc cụt từng tiếng. Dơi thấy động rừng bay ra kêu "xít...xì". Bầy chồn lủi nhanh vào bụi rậm. Thỏ rừng tung tăng nhảy nhót thảnh thơi trên cánh đồng cỏ non. Tất cả âm thanh và hình ảnh sống động ấy, tạo thành bản rừng ca thiên nhiên muôn điệu bất hủ.
Hoà đưa máy ảnh bấm liên tục, những hoạt cảnh tươi nguyên núi rừng hoang dã hồn nhiên, đầy tình tự quê hương hữu ái, mà anh ta hằng yêu thích. Phía trên đỉnh thác khá lạnh. Nhưng không lạnh bằng lòng thác lúc nãy. Du ngẩn ngơ... tìm chỗ đặt mấy giỏ thức ăn xuống. Các bạn ngồi trên tấm ni lông, mà họ cẩn thận mang theo. Họ nói chuyện cười đùa huyên thuyên, họ chỉ chỏ Hoà chụp ảnh.
Bỗng Phú khựng lại, im bặt, khiến các bạn ngẩng nhìn. Có những dấu chân loài thú khổng lồ quần nhau, cạnh khúc xương ống, một đầu lâu (có lẽ của khỉ), cách chỗ các bạn ngồi không xa.
Thế là, ý định nằm lăn ra bãi cỏ non mềm, chợt tiêu tan ngay. Đi núi, họ không mang theo bất cứ một dụng cụ đề phòng nào, nhỡ mà có bị rắn rết cắn bất tử, thì thật nguy to. Bây giờ cả nhóm mới thấy Hoà đề nghị leo lên núi, là điều dại dột, bất lợi quá. Họ vội xếp đồ đạc vào ba lô, giỏ xách, để vát trở xuống chân thác. Lòng chẳng hẹn lòng, nhưng ai ai cũng nơm nớp lo sợ sự bất an quanh quẩn đâu đây. Nỗi lo sợ ớn lạnh cùng khắp. Khí trời ban mai đã lạnh lẽo, càng thêm buốt giá kinh khủng. Kinh khủng!
Mất hai giờ, họ lần mò trở xuống chân thác. Leo lên đã khó, tụt xuống càng khó gấp bội. Bạn cẩn thận lần mò, nhích đi từng bước một. Tay bám vào gờ đá, thân cây hoặc dây leo, gốc rễ, bò thụt lùi, từng tất đất khó khăn. Nhìn xuống vực thẳm, thấy tối tăm mặt mũi, hoa cả mắt, sợ mất hồn mất vía. Cuối cùng, cả nhóm trở về được dưới chân thác, mặt mày chân tay xây xát, mệt mỏi rã rời, quần áo xốc xếch, lấm lem. Tuy vậy, mấy anh thanh niên tính không khỏi reo lên, vì họ đã tận hưởng giờ phút vui thú nhất, qua danh lam thắng cảnh tuyệt vời. Thể hiện tính kiên cường, bất khuất gian nan, thỏa trí tò mò, dù họ quá mệt mỏi và lòng kinh sợ.
Hôm đó, khi nhảy qua mấy hòn đá trơn, suýt tí nữa nàng bị nguy hiểm tính mạng, nếu Phú không nhanh tay kéo nàng ngã dúi vào lòng anh. Mất thăng bằng, cả hai người ngã lăn trên dòng suối ấm dưới chân thác. Hương hoa núi rừng mộc mạc, kèm với sự sợ hãi chợt đến, chợt đau lúc tay chân bị đập vào đá, khiến nàng quên nỗi bẽn lẽn thẹn thùng. Áo quần ướt sũng nước. Hai người nắm chặt tay nhau, từ từ lội vào bờ, và lóp ngóp bò lên ngồi trên tảng đá, “anh chị” hong khô người dưới ánh nắng. Các bạn lò dò đi các nơi chụp ảnh. Chỉ còn hai người, nàng cảm thấy ngượng ngùng, e thẹn, vì áo quần dính chặt vào da. Không ai nói với ai lời nào. Phú, và nàng cùng nhìn theo các bạn. Thế nhưng, thoáng chốc quần áo khô nhanh.
Các bạn đi Prenn, Liên Khương, Bồng Lai, Gougah, Pongour. Chiều về đi đi suối Cát Tiên, hồ Than Thở. Vallée D 'Amoure. Suối Vàng. Suối Bạc. Cam Ly và về phố.
Những lần du ngoạn ngoài thiên nhiên, làm cho cuộc sống của nàng có phần dễ chịu, thoải mái hồn nhiên tươi vui hơn. Nàng nhớ thật nhiều về tình bạn nồng thắm buổi ban sơ, và những ngày luyến lưu xa xưa đầy thân ái, đã ghi lại trong tâm tư nàng tình bạn chân thành hữu ái đậm sâu và bất diệt.

_ * _

Mùa Xuân xa xưa lắm…
Ái Ưu Du




-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 08:15:58 Feb 07 2009 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL


Lá Mơ Khuyên Bồ Không Ăn “Phở”

* * *



Một hôm vào ngày nắng tươi, nàng mời “hắn”, Vươn, và Vượng. (Thế Vươn là bạn cuả Ngọc Vượng), cả bốn người: Ba ông và một bà - đi ăn thịt cá sấu ở một nhà hàng thơ mộng, tại vùng quê Bình Thới.
Ban đầu mọi người vừa ăn, vừa rỉ rả chuyện trò vui vui. Sau khi ba người đàn ông nầy, mỗi người đã uống qua năm lon bia hộp ngoại, vỏ bia lon để ngổn ngang dưới chân bàn. {(Có lẽ do ngà ngà say, hay do hai ông kia có ý nói muốn cho nàng biết rõ về câu chuyện của “Năm to-bị" và con “Phở” Kiêm, cũng nên) ; (!?)}:
Vươn tóc đen khơi chuyện:
- Ông "Năm to bị" thiệt sung sướng quá! Hôm nay tui Ăn chưa no lo chưa tới. Ăn “cơm mới” nói chuyện cũ… đây bạn. Ông đúng là:
Sáng đèo “cơm” đi ăn “phở”.
Trưa hăm hở rước “phở” đi ăn “cơm”.
Chiều “cơm” về nhà “cơm”.
“Phở” về nhà “phở”.
Tối nằm với “cơm” nghe thơm thơm mùi “phở”.
Vượng dằn mạnh lon bia cái cộp trên bàn, nghe bạn Vươn nói:
- Hẳn là “cụ mi” biết con Kiêm, là tình nhân cuả ông Vượng nhà ta từ chín năm nay rồi ha?
- Khà khà! Biết chứ. Tôi đã đọc ở đâu đó: (“Vợ” là “cơm nguội” của ta). Mình ăn hoài thấy ngấy lên tận cổ... (Nhưng mà “phở tái” của cha láng giềng). Tôi ăn “phở tái” tất nhiên tôi ăn bánh trả tiền, có hao tốn tiền bạc thiệt, mà đôi khi run sợ phải mang bệnh Aid. Tuy vậy tôi vẫn thèm… ăn “phở” mới chít.
Bây giờ họ không nói chuyện tiếu lâm nữa, mà bắt đầu nhập đề:
- Hẳn là ông biết chắc con Kiêm là gái ca va, có bốn đời chồng không chính thức, có hai dòng con riêng. Nay con ghẹ ấy vẫn có một số tình hờ. Ông biết rõ nó đục khoét cuả Vượng không biết bao nhiêu là của chìm của nổi, kể sao cho hết? Và, ông còn công nhận ông là bạn già U-70 cuả Vượng ha?
- Dĩ nhiên... Chả thế mà AUD đã viết bài thơ Tức đó à:
Anh đi vắng, thâu đêm em thức.
Cỡi áo vì em đang bức rức...
Chỗ ấy...bi giờ vẫn nóng nực.
Nhìn xuống nhìn lên càng thêm tức.
*
Nhìn lên nhìn xuống đà quá tức.
Nhìn qua nhìn lại không có thực!
Anh ẵm mụ nào vô xó... "xực" ?
Sao bằng em múi mít thơm phức!

Vươn lừ mắt nhìn soi mói vào mặt hắn:
- Nay ông đang cặp bồ với con Kiêm hử?
- Nghe anh Vượng không còn bao con Kiêm, họ xù độ rồi mà? Thì tôi cũng muốn ăn “phở” vui chơi qua ngày thôi... Kẻ trộm mới đi ăn đêm… Ai người tử tế ra đường giữa đêm!? Chớ tôi nào có hạnh phước như anh: Có phước lấy được vợ già. Sạch cửa sạch nhà lại ngọt “cơm” canh. Khổ thân tôi! Riêng tôi thì: “Đói cơm” lạt áo kém hem. No “cơm” ấm áo lại tìm nọ kia... Nhất là lúc tôi nhìn thấy “phở” thì nước miếng nước mồm tuôn ứa ra: Có làm thì mới có ăn. Ngồi không ai dễ đem phần đến cho. Tất nhiên là tôi phải làm tới… là tôi phải tán hưu tán vượn con ghẹ, thì “phở” mới chịu đèn. Hoa thơm xuống đất cũng thơm. Em giòn rách áo “đói cơm” cũng giòn. Ha ha ha...
Hắn cười rất đễu:
- Tôi dùng hết thủ thuật để lân la cố làm quen hầu nhữ cho được “con mồi Phở”: Tôi tủm tỉm cừi cừi… nói nói, cố ý lê la tới gù gà con ghẹ:
- Có phải xóm em đang… hôm nay có đám giỗ gần. Trong bụng bần thần em chẳng muốn nấu “cơm” cho anh ăn không vậy?
- Thế là chỉ mươi phút sau chúng tôi dễ dàng xáp lại với nhau cái rột! Được đà cứ tiến, được miếng cứ ăn… Chỉ có vậy!
Vượng vuốt ngược nhóm tóc bạc ra sau gáy, ông ta lừ mắt:
- Thì có lần chạm mặt, tui đã hỏi ông: Hỏi anh anh nói “học trò” sao mà tui thấy cỡi bò hôm qua?! Tui thật lấy làm tiếc khi ông đã làm một chuyện…, mà tôi thấy một người luôn tự hào là trí thức có tư cách như ông, đều không ai dám làm. Ông là bạn cuả tui, mà Ông thừa biết tui coi con Kiêm là “cơm áo gạo tiền” như người vợ chính thức (vì vợ tui đã chết). Chớ có phải là giống loại “cơm hàng cháo chợ” chi đâu! Mà ông vẫn lao đầu vào để giật vợ bạn. Là sao?
Vượng ngừng một lát. Còn Vươn nhìn trừng trừng vào mặt hắn:
- Nhất là, ông không làm gì ra tiền, ông ăn bám “cơm thừa canh cặn” vào đứa con của ông. Rồi… Ông bu bám vào hai người đàn bà ở hải ngoại. Ông dùng tiền của mồ hôi nước mắt, đục khoét tiền những người khác, ông không có liêm sĩ và làm những chuyện ác ôn, táng tận lương tâm, láo lường gạt gẫm bạn bè là: ông bị đau cổ họng có thể ung thư, để bạn Không-Quân quyên góp tiền gửi về cho ông. Ông đem số tiền ấy để đi ăn “phở triền miên” chơi bời, hầu thoả mãn dục vọng, và tự ái của thằng đàn ông sa đoạ. Nói thật với ông nhe: Tôi nhục nhã khi biết ông. Ông không xứng đáng làm bạn với chúng tôi.
Vươn trợn mắt theo cơn say túy lúy, anh ta xỉ xỉ ngón tay thẳng vào mặt hắn:
- Chỉ có loài thú “cơm niêu nước lọ” mới trơ cái mặt dày mày dạn ra. Con chó nó có nghiã, nó cũng không làm cái chuyện đi lấy bậy. Đừng nói ông là con người có học thức cao, mà lén đi ăn “phở” của bạn. Vì ông bạn thân cuả tôi đây, hôm nay tôi đến đây, là lần đầu tiên tôi gặp ông, và cũng là lần cuối cùng.
“Nạn nhân Ngọc Vượng” nhìn nàng lắc lắc mái tóc bạc phơ, như muốntrút bỏ cơn say, hay ông ta sợ ác chiến xảy ra? Tuy nhiên nàng thầm nghĩ:
- “Rất có thể anh Vượng khó nói, không thể “giải” oan nỗi sầu đắng giữa “Bạn” “Cơm” và “Phở”! Nay anh ta muốn nhờ ông bạn của mình sẽ mạnh miệng nói thay chăng?! Vươn, người đàn ông miền Nam có giọng nói sang sảng và như tát vào mặt thằng chả. Giờ đây hai anh bạn già ấy trông thật hả hê khoan khoái ở trong lòng”.
Vượng tóc bạc chiã năm ngón tay vào đầu, xới xới hất hất ngược mái tóc trắng phau lên. Nhưng giọng Bắc của anh Vượng nhà ta thì từ tốn, ảnh nhẹ nhàng can ngăn bạn thân:
- Thôi ông ơi!
“vợ là địch.
Bồ bịch mới là ta.
Khi chiến sự xảy ra.
Ta buộc về với địch.
Nằm trong lòng địch.
Rục rịch ta nhớ ta”. Ông xĩn rồi. Để tôi đưa ông đi về gấp nà...
Hai ông bạn già đứng dậy, ung dung tự tại đi ra bãi giữ xe. Anh tóc bạc chở anh tóc hoa râm đi, với tràng cười ha ha ha… lướt thướt lùa trong gió rớt lại sau tấm lưng hắn. "Thằng chả" cúi gục đầu, hắn bị bất ngờ kinh khủng, dường như hắn đã nhận gáo nước sôi tạt vô mặt. Mặt mày hắn thộn ra, sượng sùng, tái nhợt rồi bừng bừng đỏ au lên.

* * *
Nàng cũng khá choáng váng, bất ngờ hốt hoảng tột độ, và đờ đẫn cả người. Nàng ngượng nghịu ngồi chết trân không kịp phản ứng. Tình bạn già và tình yêu mà nàng tưởng nhầm là siêu sao thần tượng, lý tưởng cao vời, nay đã lố bịch sụp đỗ, rơi tỏm xuống vũng bùn. Buồn lòng và cay đắng nghẹn ngào, đau xót nhất là từ bây giờ nàng mới bừng tỉnh lắng tai nghe lời họ nói. Mắt nàng mở ra thấy những điều sống sượng quá trơ trẽn. Nàng nhận chân được giá trị một thật sự mỉa mai và đau xót khôn lường:
“Thằng chả” chỉ là một kẻ hèn mọn, là tên lường gạt lố bịch, quá thô bỉ và tầm thường. Thì ra... Từ ngày xưa đến nay nàng chỉ: “Tri nhân tri diện, bất tri tâm. Hoạ hổ hoạ bì, nan hoạ cốt” (thấy người thấy mặt, không thấy lòng. Vẽ hổ vẽ da, không thể vẽ xương). Càng về lâu về dài thì nàng mới biết: thằng chả ích kỷ vô cùng, hắn muốn thoải mãn tình yêu chính bản thân hắn thôi, mà quên đi đạo đức tất yếu của con người biết tự trọng. Lòng tự trọng không ngăn nỗi tính già còn háo thắng, và tội lừa phỉnh ùa về. Hắn yêu bản thân riêng mình đến độ hèn hạ mất thể diện và ô danh. Tính nào tật nấy. Ngựa cũ quen đường xưa.
Đồng thời hắn là kẻ chuyên lợi dụng người khác, sự lạm dụng trắng trợn đầy bất nhân: Thời xuân trẻ trai tráng, cho đến bây giờ, không khác gì nhau: > Hắn từng đi với nhiều hạng người: Từ bà chủ chứa gái đã lấy guốc sắt đập trên đầu hắn lõa máu tươi, tới con bé ăn sương mù loà trước năm 2005, tối tối con nhỏ đứng chờ bên hẽm Hai Bà Trưng đón khách đưa lon xin tiền. Hắn dám khoe với nàng điều ghê tởm đó, mà không đỏ mặt; như là một sự hào hoa bay bướm của con đĩ đực!
Từ hồi xa lắc, cũ rích hắn dan díu với con mụ già khú Tư Rậm ở gần nhà, mụ ta hơn tuổi hắn một con giáp. Rồi; từ “bà Phở” bên sát hông nhà, hắn dám cả gan tò te với bả xồn xồn có chồng con, hắn rủ rê “bà Phở” qua nhà, hắn đè mụ ra trên gác xép và lấy mụ. Nhiều lần sau, thì chuyện tồi tệ bị đổ bể, khi hắn chở con “mụ Phở” xồn xồn ấy về ngang gần ngỏ nhà, thì hắn bị ông chồng của “mụ Phở” rình rập, và bắt gặp quả tang. Thằng chồng của “mụ Phở” dzợt hắn một tăng. Thằng chồng cầm con dao nhíp, đòi lụi hắn. Hắn đã quỳ xuống giữa lề đường, trước bao nhiêu kẻ qua người lại, hắn lạy lục thằng chồng của “mụ phở” lia lịa như tế sao. Hắn khẩn cầu, van lơn xin “ông” tha mạng. Ông chồng mọc sừng sợ thằng hàng xóm quá, lo bán nhà gấp, lo dọn đi mất biệt!
- Cả bà Nga nghèo khổ, bà buôn mồ hôi bán nước mắt, bưng thúng xôi vò ở đầu ngỏ. Ngày ngày hắn ghé xe đạp qua góc đường, lấy vài ba vắt xôi. Bà ta thương yêu hắn, luôn dúi cho gói xôi kèm theo cho hắn chút tiền com cóp nhặt nhạnh trong thời kỳ mới hoàn tất cuộc cách mạng 75.
- Đến bà Lan là bạn nhậu bù khú với nhóm của hắn, bà ta tu rượu như uống nước lạnh, thời gian đó hắn say bí tỉ, nhậu nhẹt ly bì, không biết trời trăng chi cả. Rồi bà Dung chết chồng có con. Bà Dâu làm trong công ty dệt. Từ cô sinh viên gia giáo đến cô gái con nhà lành. Kể cả con Nguyện xấu xí tuổi xấp xỉ bằng con gái hắn. Con Kiêm mặt ngựa thô thiển, cũng xấu xí ốm nhom ốm nhách, giơ ra cặp “trường túc bất chi lao” khẳng khiu, giọng nói của nó lơ lớ, nghe càng đanh đá và hung dữ bặm trợn hết biết. Chúng chả giống con giáp nào! (như hắn đã tả chân về những đàn bà đó, cho cả nhà nghe) ; lớn, bé, già, trẻ, thằng chả cũng bòn mút liếm láp hết không tha.
Hắn đã dùng lời lẽ ngon ngọt đúng “một tông y khuôn đúc” đem ra sao chép để phỉnh lừa họ. Chỉ vì hắn muốn dùng những người đàn bà kia, để thoả mãn tự ái là: hắn vẫn còn phong độ, có sức chinh phục mê hoặc quý đàn bà nào nhẹ dạ, vì cái vỏ bên ngoài trau chuốt khá đĩ trai của hắn. Và nhất là để hắn trả thù đàn bà. Hắn muốn che đậy niềm đau đớn đã bị người con gái (xưa kia ở xứ lạnh mà hắn rất yêu, thế mà “cô nàng”…) lại bỏ rơi hắn. Hắn hận! Do hắn cũng bị vợ ly dị vì sự sa đọa chính mình.
Và vẫn do… hắn muốn ăn cho khoái khẩu, nên hắn bị “phở xí Kiêm” lừa hắn một vố đau hơn bò đá. (nhân dịp hắn đi du lịch xa, ở nhà “Phở xí Kiêm” dọn sạch đồ đạc, và tom góp tí tiền còm (mà hắn đã lường gạt của bạn bè, và của người yêu phương xa). Ồ! đúng hắn là thằng Ma cô thì gặp con Phở Tú Bà! Thế là… sau đó có rất nhiều chuyện kinh thiên động địa đã xảy ra… “Phở Tả Pín Lù nhà hắn” đã bốc hơi thúi thum thủm ra thành phân, thúi hoắt mất rồi!
Than ôi!
Quý anh thân kính ơi! Nếu chung thủy & chân thành thương yêu “cơm” xin hãy sớm lìa xa “Phở”. Chớ có dại mà hại thân già! ... Mình khổ!

Bồ tôi chỉ thích ăn quà…
Về nhà lén vợ qua phà ăn thêm.
“Phở bò” gân tái sụn mềm…
Ăn “cơm” quá ớn Bồ thèm “phở… rơi”!
*
Phải chăng duyên phận do Trời?
Bồ tôi có đủ… đầy vơi các nàng!
Nước hoài chàng chớ mơ màng.
Ngày đêm nút chát với nàng vi vu…
*
Mặc dù “con vợ” lù đù!
Khui ra Bồ đã nhảy dù bao phen…
Xấu chàng hổ thiếp phận hèn.
Tên anh sẽ phải lem nhem danh đời!
*
Khôn ngoan chàng hãy nên rời.
Từ nơi “phở tái”… “cơm” thời xa anh!
Lôi thôi lốc thốc sao đành.
Tối ngày chàng ngủ gốc chanh hận đời.
*
Chẳng ai màn tới “Phở” dai…
Chàng ra nông nổi tiếng hoài thị phi.
Thử coi chàng bỏ lần ni.
“Cơm” không có mút nói gì “Phở” thiu!
*
Chẳng qua em chỉ vì yêu.
Khuyên chàng khuya tối sớm chiều bên em.
Vòng tay ấm áp xiết thêm.
Trải giường mơ lá mình êm chàng nằm…

* * *

Ái Ưu Du_ * _




-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 13:37:42 Jun 20 2009 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL

Xa... Nhớ Nhiều... !




Tình yêu đã đem lại cho lứa đôi niềm an thư, vui vẻ, hạnh phúc trong mấy ngày, rồi cũng đem đến cho nhau bao nỗi ưu buồn, lo âu và run sợ. Do có gay gắt đột ngột giữa chị Khánh và chuyện hai người yêu nhau, nên chàng không xuống nhà chị Khánh nữa, mà “hai anh chị nhỏ” lén lút hẹn nhau ở nhà anh chị Tuế.
Việc anh chị Tuế bao che, “chứa chấp nàng, và chàng” có nghĩa là chị Tuế cho họ ngồi nói chuyện với nhau trong phòng khách thôi, cũng khiến chị Khánh nổi giận hơn. Chị Khánh gọi chị Hách (vợ anh Tuế) qua nhà la cho một trận. Thế là con nhỏ hết đường đi. Chị Khánh dồn cô em vào ngỏ cụt không lối thoát, tiến thối lưỡng nan rồi. Đêm đêm nằm úp mặt xuống giường, con nhỏ khóc ướt gối.
Khi nhỏ chạy qua được bên nhà chị Hách, chàng đã đợi con nhỏ ở đó ba giờ liền. Nam và Mười đi lên giáo đường “con gà”, hai cô cậu quỳ bên nhau cầu nguyện thật lâu, mong cho lòng thanh thản, dịu êm đôi chút. Nhỏ không thể ngăn dòng nước mắt uất nghẹn tuôn trào. Nàng thì thầm van xin cùng Mẹ Maria, cho mình thoát khỏi đắng cay, xin gìn giữ tình yêu bền chặt, lâu dài.
Khi quá lo âu, đau khổ, buồn phiền, run sợ cùng tuyệt vọng, người ta thường tìm đến Đấng Tối Cao nhiệm mầu, xin Ngài mở rộng vòng tay từ ái. Ngài là nơi an hoà, bình yên, yêu thương tuyệt diệu, là điểm tựa vững chắc miên viễn. Chàng cũng rướm lệ, uất ức, buồn phiền, khi qùy trong giáo đường. Nam lấy khăn tay lau khô hàng nước mắt trên má nàng, và tự lau nước mắt.
Ra khỏi giáo đường nàng và chàng đến văn phòng hội quán, nơi chị Hách làm việc, chàng giúp chị đánh máy thật nhanh, chị Hách mừng lắm. Mấy chị em buồn rầu chuyện trò nho nhỏ, chị khuyên nhủ hai em cố chịu đựng, lo gắng học hành cho có tương lai. Chị nồng nhiệt an ủi, vỗ về hai em. Chiều đến, ba chị em chia tay, mỗi người đi mỗi nơi.
* * *

Nam trằn trọc trên giường, chàng vắt tay lên trán nghĩ ngợi mông lung, đăm đăm nhìn qua khung cửa sổ đóng kín. Nam không thấy gì hơn là nỗi tức giận, buồn phiền. Nam muốn đến nói thẳng, nói thực, nói với chị Khánh. Nhất là Nam sẽ nói nhiều với nàng khi ngày chia tay gần kề, chàng sẽ nói với người con gái, tha thiết hơn là bạn thân, dù chưa là vị hôn thê, chưa là vợ chàng, rằng:
- Anh yêu Mười – Em quan trọng hơn thế gấp ngàn lần, trong đời của Phương Nam nầy. Bởi vì Mười chính là Tình Yêu. Và, anh đã yêu em nhiều, yêu nhiều lắm! Cho dù mai đây anh sẽ xa xa xa... Mười. Nhưng anh luôn nhớ nhớ nhớ... Mười. Anh mãi thương thương thương... Mười. Nhiều! Nhiều! Nhiều...! Tình yêu, là hạnh phúc duy nhất trong cuộc đời anh, sao bây giờ vô cùng mong manh bé nhỏ, đau buồn đến thế!? Như đám mây hồng thoáng bay qua nơi tầm tay, Nam không thể làm cho lòng mình yên vui thanh thảng lại tháng ngày hồn nhiên, nên thơ, yên vui xưa cũ. Hở em!?
Nhưng sao hôm sau, khi chàng gặp Mười trong chốc lát thì, những lời định nói - ngọt ngào như trái dâu chín nép bên lá xanh, bỗng dưng rụng rời, khô héo, tóp teo, như trái dâu đã hong khô trên giàn bếp! Bây giờ Nam không nói được, mai kia giữa Sài Gòn và Đà Lạt, hay giữa Sài Gòn và Huế xa xôi nghìn trùng, sẽ ngăn chia biết bao sông núi ao hồ, tít mù ngót nghìn cây số đường trường, xa xăm đến tận chân trời mút tầm mắt, đường dài như vô tận. Mười và Nam sẽ bị ngăn cách bởi không gian, thời gian, bởi đỉnh núi rất hiểm trở, biển đèo, hồ ao, sông ngòi vạn dặm, chia lìa bởi vực thẳm cheo leo hun hút. Mặt cách mặt, lòng xa lòng. Biết ra sao ngày sau!? Bây chừ muốn nói; mà chàng sẽ nói gì đây?
Buổi trưa ngày thứ mười ba, Nam thấy Mười cùng mấy bạn đi học về ngang qua cầu Bá Hộ Chúc như mọi khi, Mười không cười nói tung tăng vô tư như trước, nàng lầm lũi bước đi bên bạn. Bỗng chàng thấy hai chị Lê, Khánh, từ trong ngỏ Đoàn thị Điểm đi ra, hai chị đứng sững lại chỉ chỏ con nhỏ em, nhìn Mười chằm chằm. Nam không hiểu Mười có thấy hai chị không, mà nàng cúi đầu lẫn trong các bạn đi lên con dốc Bà Triệu, về nhà?
Tựa lưng bên cầu Bá Hộ Chúc, cây cầu gỗ đen sì như tương lai hắc ám của người bạc phận. Chàng nhìn theo bóng Mười mãi. Khi bóng nàng dần khuất sau dốc vòng cao, Nam quay người chống hai tay lên thành cầu, anh cúi nhìn khá lâu xuống con suối chảy siết dưới chân cầu. Nước chảy qua cầu cuộn sóng, cuốn theo cây lá bồng bềnh trôi lênh đênh trên mặt.
Tự dưng chàng cảm thấy buồn bã, đơn điệu, trống vắng vô ngần; một sự đau đớn phiền muộn nặng nề, đầy bức xúc phủ chụp xuống tâm hồn Nam, khiến chàng buông nhiều tiếng thở dài. Nam quên tiệt, và không thể ngờ bên kia quán cóc của cô Lượm, có hai bà chị của Mười còn đứng như trời trồng, họ đang dán mắt nhìn Nam, theo dõi từng cử chỉ nhỏ nhặt nhất của chàng.
Nam đến chào gia đình anh chị Lê, chị Khánh, chị Hách, để ngày mai chàng về Sài Gòn. Còn Mười thì xin phép chị Khánh cho mình đi nói chuyện "dứt khoát với Nam".
Ngày cuối cùng sánh bước bên nhau. Nam âu yếm hôn lên đôi mắt nàng ứa lệ. Chàng không thổn thức như nàng, nhưng hai hàng lệ từ trong tuyến nước mắt Nam tự động lăn trên má, uất nghẹn. Vì, nhiều điều không thể nói hết, vì bao trăn trở ưu phiền, lo lắng buồn đau, tức giận chính thân Nam chưa đem đến cho Mười có điều vui, chàng mong Mười là người trước tiên cần an hòa trong tâm hồn. Sau là để hai chị lớn của Mười thấu hiểu, thông cảm, yêu thương cô em của họ hơn.
Dòng lệ chảy từ đôi mắt dấu yêu từng nén lại nỗi nghẹn ngào, uất ức có tác dụng mạnh hơn cả ngàn lời chia tay. Nỗi đau của Mười, Nam, đột ngột bất ngờ phủ chụp xuống đầu, khiến họ không thể chịu nỗi cuộc chia tay, chưa hẹn ngày tái ngộ ở phương nào? Họ không lường chuyện gì sẽ xảy ra từ phía trước. Nơi Mười sẽ đến, nơi chàng quay về chốn phồn hoa đô hội cũ? Nơi họ sẽ sống thấp thỏm lo âu, khắc khoải mòn mõi, bồn chồn, quắt quay nỗi đau, nỗi nhớ, nỗi thương yêu và, nỗi ân hận dày vò.
Ngồi trên đám cỏ bồng bềnh ở góc đường Phạm Phú Thứ, hai bạn nhìn xuống nhà thờ Tịnh Tâm. Họ cảm thấy rã rời, đau đớn, cái đau tâm hồn làm dại khờ thể xác. Nam và Mười, không muốn cất bước dìu nhau đi nhặt trái thông khô, hái hoa hoặc lượm lá vàng rơi, đem về ép trong trang sách. Mặc dù thả bộ trên con đường rợp bóng cây nhặt lá hái hoa là điều hai người cùng yêu thích. Họ nhìn xe cộ, người người qua lại rải rác.
Thỉnh thoảng có nhiều đôi trai gái nắm tay nhau cười vui tung tăng trên đường. Không hiểu chàng nói điều gì, khiến cô gái cười dòn tan, đầy vui thích. Có lẽ họ là những cặp tình hạnh phúc thực sự, không rơi vào hoàn cảnh khắc nghiệt, gia đình họ không lấy “quyền huynh thế phụ”, buộc em chấm dứt đủ mọi thứ. Nhất là buộc em nghỉ học trong lúc mùa thi cử sắp đến, mất cả niên học, chẳng còn cơ hội đến trường. Nghĩ vậy, nàng càng tủi thân, thương cảm biết mấy!
Chàng cầm tay Mười, âu yếm nói:
- Nếu gia đình quyết định về việc em ra Huế, Thì cho anh biết gấp. Nhé.
Mười gật đầu im lặng. Chàng ôm chặt Mười trong vòng tay thư sinh, như sợ Mười sẽ xa mình, cô nhỏ sẽ tan biến vào giấc mộng trắng toát tuổi học trò. Nam dặn dò:
- Giữ liên lạc thường xuyên nhe. Chờ đợi anh, đừng nãn lòng nhe. Lúc nào buồn, nhớ viết thư thật dài, kể cho anh nghe về mọi sinh hoạt của em, qua đó, anh có thể an lòng. Tình yêu của anh. Hạnh phúc của anh ở nơi nầy.
Chàng chỉ tay lên ngực nàng, nơi Mười đeo một mặt dây chuyền vàng, có khắc chữ NM.
Đó là lời trao yêu tha thiết, chân thành nồng nhiệt, lời hứa hẹn đầy ắp ân tình trìu mến, tương kính như tân. Bằng cử chỉ dịu dàng, thân ái và trân trọng, Nam đắm đuối hôn lên môi Mười, nụ hôn có nhiều vị đắng, vị cay, vị chua, vị mặn, vị nồng, từ hai hàng nước mắt lăn xuống, để bù đắp lại bao trống vắng, chia lìa mai đây.
Xa! Xa! Xa... là xao xuyến, nhớ nhung ngẩn lòng. Là mến tiếc bâng khuâng. Là lo lắng băn khoăn, bồn chồn ray rứt. Là bất ổn đớn đau trong lòng nhiều lắm! Là quạnh vắng nhớ thương, mòn mõi đợi trông. Là suy tư đắm chìm về từng kỷ niệm, vui buồn xếp lớp lăn tăn trong tiềm thức. Là kéo dĩ vãng về với hiện tại, để sống cho tương lai. Là ước nguyện và hy vọng trùng phùng một thuở bên nhau. Là nguồn yêu thương chân thật, an ủi nhất. Là điểm tựa cuối cùng, trong muôn điều đắng cay, đau khổ, vừa ập đến. Và, thực tế là xóa sạch nỗi hận không ngờ, tẩy bỏ niềm đau buồn đột ngột, làm bàng hoàng, vò xé, ân hận, thương tổn tình yêu ít nhiều.
Ôi! Còn đâu nữa những tiếng cười hồn nhiên, rơi trên từng giọt mực tím trái mồng tơi? Còn đâu sự ân cần âu yếm, gọi nhau bằng "bậu" mà xưng là "qua". Hoặc như người miền Bắc ngọt ngào xưng "đây" goị "đấy". Hay là “ta” với “mình” ríu ra ríu rít âu yếm thủ thỉ bên tai.
Thôi! Em hãy về bên con sông Hương điệp trùng xa cách, em uống nước thượng nguồn, sẽ nhớ người anh hậu giang. Em như con cò hiu hắt đơn độc, nép mình bên bờ ruộng khô lững thững côi cút đi tìm mồi. Anh muốn mình hóa thành bóng mây bồng bềnh, lang thang phiêu lãng cùng Mười bay về vùng trời quê hương của em, hai đứa mình sẽ cùng nhau nhìn con đò êm êm, lướt nhẹ trên dòng sông xưa, mà có lần Mười thân thiết gọi:
- Con thuyền hoa chở Mười đi gặp Nam".
Chúng ta sẽ cùng nhau tìm lại dĩ vãng hoang dại, có một thời thân thương xiết đỗi mến yêu dưới mái nhà ấm áp, gợi nhớ bữa cơm chiều thân mật. Anh sẽ về tìm em, nơi phương trời xa xôi vạn dặm ấy, nơi xứ lạ phương xa mà anh chưa hề biết đến. Anh sẽ về tìm em, dù xa xôi và muôn vàn cách trở. Anh sẽ về bên em, dù bất cứ giá nào!
Nghĩ vậy, nên chàng quá thương yêu Mười, Nam càng ôm chặt nàng vào lòng, dường như chàng sợ mất cô em. Nam muốn ghì xiết Mười, như con sên suốt kiếp bám chặt vào ốc vỏ.
Những giờ phút cuối trong giờ chia tay thật yên lặng, buồn bã, đầy xúc động bên nhau. Hai người thong thả đứng dậy, từ từ dời gót như còn cả tương lai và chân trời trước mặt, họ không vội vàng chi. Một giờ trưa. Họ dìu nhau đi thật chậm trong lòng phố thênh thang. Cúi đầu trên mái tóc nàng, một tay chàng xách valy, một tay Nam ôm bờ vai người yêu bé nhỏ.
Nam, Mười, đứng khuất sau bức tường, trên bến xe cũ, ở đường Hàm Nghi. Họ ngắm nhìn nhau, không thốt lời nào. Hình như trải qua bao nhiêu đắng cay, buồn phiền, trong tích tắc thời gian nóng bỏng nhất, cổ họng họ đã tuôn trào mật đắng. Đắng nghét. Không còn hơi sức thốt nên lời.
Chàng lấy mũi dao nhỏ, trong cái kéo bấm móng tay, khắc vào bức tường:

Nam + Mười

_ * _


Ái Ưu Du



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 15:16:39 Oct 28 2009 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL

Tiếng Tu Huýt Gợi Tình Xuân



Nhiều cuộn mây trắng gợn trên lưng trời sáng bạc thêm óng ánh, mây là đà lững lờ bay qua mặt hồ Than Thở, thoáng chốc mây trôi về chân núi Lâm Viên. Từng đàn chim én thoăn thoắt chao liệng trên không trung, chúng bay bướm vẽ những đường cong khá lả lướt, ngoạn mục. Bao tiếng chim ríu rít rủ gọi nhau về mở hội ngày đầu năm mới ở hiên ngoài.
Nắng vẫn ươm hồng trên những cành hoa anh đào lả lơi chúm chím xinh xinh, và cánh lá nhung lam mông mốc mươn mướt, rung rinh từng chùm phấn mimosa vàng lác đác e ấp run run sau vườn nhà, hoa mimosa tỏa mùi hương thoảng nhè nhẹ, dù là lạ vì mùi hơi hăng hắc.
Cảnh đến thăm tôi vào một ngày chủ nhật đầu năm mới. Cảnh: Dáng người to to, cao cao. Mái tóc chàng quăn quăn gợn sóng cắt ngắn, ép sát vào gáy, tạo cho anh ấy thêm phần hiên ngang, đỉnh đạt. Dưới vầng trán rộng và cao, là cặp lông mày rậm nhưng không dữ dằn, đôi mắt to và đẹp, hàng mi cong cong, miệng rộng, nụ cười tươi với hàm răng trắng bóng khá đều. Mũi lân to bè khoan khoái, làn da ngăm ngăm nhuốm phong trần.
Nói chung chung gương mặt Cảnh trông an hoà, toát lên một vẽ gì độ lượng mực thước, chững chạc hiền hậu, ân cần mời gọi, mà lại thẳng thắng và oai dũng trang nghiêm. Làm cộm lên trong lòng tôi niềm thương thương, dạt dào trìu mến, hay hay sao sao ấy.
Cảnh là chàng trai sinh trưởng ở miền Sông Hậu. Ba của anh ấy ở miệt Cầu Kè (Trà Vinh) và quê mẹ anh ấy ở Sóc Trăng (Long Phú). Nên Cảnh hấp thụ lối sống hồn nhiên, chân phương, vui tính thành thật và tươi mát; chàng không khách sáo, không ngại ngùng, mà tự nhiên gỏ cửa phòng riêng, khi tôi đang chập chờn giấc ngủ trưa.
Cảnh cởi tấm áo quân-phục Sinh-viên Sĩ Quan Võ Bị đã mặc trong mùa xuân ra, và máng chiếc áo có cầu vai đỏ lủng lẳng dây biểu chương lên lưng ghế dựa. Cảnh cởi bỏ cà vạt đen, lủng lẵng trước ngực áo sơ mi trắng ngần, áo quần chàng thẳng nếp ly hồ ủi. Chàng chỉ mặc áo thun trắng và mặc quần tây, chân mang đôi giày đen bóng loáng.
Có một lần chàng đến thăm tôi, Cảnh đã cởi đôi giày ra, chàng nhìn lui nhìn tới ở trong phòng của tôi, phòng phụ nữ độc thân thì làm gì có đôi dép loại đàn ông nào. Cảnh muốn đi chân không cho thoải mái, mát mẻ nhẹ nhàng xí.
Tôi hiểu ý và tinh nghịch cầm đôi dép cao gót của mình giơ ra trước chân chàng. Cảnh tủm tỉm cười ung dung xỏ ba ngón chân vào chiếc dép, còn ngón kế và ngón út thì chìa ra ngoài quệt xuống đất. Rồi Cảnh đứng lên đi ưỡn ẹo, nhoi nhoi cái đít… như… như đít vịt, ì ạch uốn éo Cảnh đi lui đi tới. Hai tay Cảnh đánh đằng xa giống mấy cô người mẫu. Cho tới lúc đôi dép không chịu nỗi sức mạnh “trăm cân” của chàng, đã xẹo qua một bên, khiến Cảnh chổng cù đơ ngả lăn cù cù.
Chúng tôi cùng cười rộ. Bốn mắt đã lắng đọng trong giếng tình. Tôi cảm thấy xôn xao niềm vui thích và tự tay mở rộng cánh cửa…, để đón nhận một hình ảnh tin yêu, nung nấu “chất đam mê” đang âm ỉ cháy rực trong lòng tôi. Gợn tình hây hây phơi phới mang nhiều luyến thương đã xốc đứng tôi dậy, khẽ khàng ỏn ẻn và nhí nhảnh đọng lại ở giếng mắt tôi kể từ khi có Cảnh tíu tít đi vào đời mình.
Cảnh cười cười:
- Hồi tối em đi ăn trộm ở đâu, mà bi giờ ngủ say quá vậy. Em?
Vào phòng rửa mặt, tôi khúc khích cười, nói vọng ra:
- Ấy! Em “dừa” mới “dô” trong “Dõ” Bị, “z…dinh” anh “dìa” nè. Anh hổng thấy sao!
- Khỏi cần rinh anh. Anh cũng phải đến. Vì Ngân Thụy đó.
- Anh ưa gọi em là Ngân Thụy há!
- Ừa. Vì đôi mắt em long lanh như ngấn “thụy… tinh”.
- Ơ! Em?
- Chúc mừng ngày đầu năm mới và… happy birthday em đúng mười chín tuổi, nửa tháng và ba ngày.
- Trời! Anh còn tính kỹ hơn cả em nữa.
- Có những điều… chính mình chưa nghĩ đến. Thì có thể người khác đã nghĩ thay cho rồi.
Chàng đến bên cạnh nâng tay tôi lên, Cảnh đặt gói quà to tướng vào lòng bàn tay tôi mát lạnh. Tôi ngỏ lời cảm ơn chàng, và khệ nệ bưng
tới cái bàn rộng và từ tốn mở ra. Quyển “Đắc Nhân Tâm” của Dale Canergie. “Cách Mạng Con Người” của Kirishnamuti. “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” của Alexandre Dumas. Mấy quyển sách nầy là Cảnh mua vào trường, đã đọc xong, nay chàng mang ra cho tôi đọc. Có Hộp kẹo dâu nhỏ thơm ngon. Nhưng còn bức tranh lụa của Tạ Tỵ, như gợi lên lòng tôi bao nhớ nhung.
Mỉm cười chỉ bức tranh, tôi hỏi:
- Anh thích bức tranh nầy?
- Hôm trước đi xem triển lãm, anh thấy em đứng ngẩn người, biến thân vào cả cái nhìn. Anh cho rằng: em thích bức tranh hoàng hôn bên suối, mà hoạ sĩ đã ghi lại rất thần bút. Phải không nào!?
Quả thật bức tranh quá sinh động, tuyệt vời. Phong cảnh hoàng hôn chiếu trên bãi cát ươm vàng bên suối, thật mơ màng, trông rất đẹp. Trải tranh lên bàn rộng, thuận tay Cảnh ghi lại hai câu thơ của V.S. Yeats:
“Dưới chân nhau, ước mơ ta dàn trải
Hãy êm đềm nhẹ bước, kẽo mơ phai”.
Cảnh tự động xuống lầu lấy đinh búa ở dưới garage lên, anh lúi húi đóng đinh, rồi treo bức tranh trên tường gạch:
- Treo thêm bức tranh nầy, trong phòng của em coi có vẽ sinh động lên đôi chút. Chớ không thì… căn phòng của em quả là buồn. Ha em.
- Anh chu đáo lắm. Cảm ơn anh.
Cười khà khà, Cảnh ngồi lên mép chiếc bàn vừa trải tấm tranh lúc nãy. Chân phải chàng gác lên ghế dựa, một tay chống ngang hông, một tay cầm điếu thuốc lá. Chỉ khung ảnh bỏ trống và lọ hoa hồng héo tàn từ lâu quá lâu, Cảnh nheo nheo mắt… kịch kịch. Chàng nhướng cao cặp lông mày nhúc nhích lên xuống, tỏ ý trêu ghẹo và ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi:
- Hư vô trong khung ảnh nầy ha!?
- Vô duyên như Thụy, thì làm gì có ảnh đối diện chứ.
- “Ảnh” có hai nghĩa chính: “Ảnh” có nghĩa là tấm hình, tấm ảnh. Và, theo tiếng nói của người miền Nam, thì còn có nghĩa nữa là “anh ấy”. “Nhà tôi” hay “ông xã” đó Thụy à. Còn khung ảnh ở trên bàn nầy, chưa có hình. Có nghĩa là em chưa chọn một “ảnh” tâm đầu ý hợp, để lộng kiến mà ngắm nhìn. Phải không em?
- Dạ... Anh muốn hiểu sao thì hiểu.
Sau cơn bão lòng hấp hối gần kề vực sâu, tôi thường có trạng thái vật vờ, trôi từ hiện tại về quá khứ và lơ lửng bay vào hư vô. Tôi đã im lặng đóng khung đời mình mấy chục tháng câm nín không cùng rồi!? Vết rạn lớn nhất lần đầu tiên ấy làm hỏng đời mình, đó là: Đam mê duy nhất một mối tình, mà tôi nghĩ và tôn “người ấy” lên làm siêu sao thần tượng, là lý tưởng cao vời nhất. Nhưng khi biết ra, thì "hoàng tử ấy" chỉ giống như cục đá, giống như con heo đất, nếu có mỹ cảm chăng, thì chỉ đáng đồng bạc nằm ngửa trên đất. Thật quá thất vọng.
- Thụy có nghĩ rằng: Nếu em có vài tấm ảnh của “chàng trai tập sự làm “Lính ở trường Võ Bị” trong tập album của em. Là một thời trang cho mỗi thiếu nữ, sẽ tăng phần thi vị hoá cho cuộc sống hiện tại không? Em?!
- Anh có ý tưởng ngộ nghĩnh ghê à nha.
- Nếu anh có nhã ý tặng em…
- Em nghiêng đầu nói: Rất hân hạnh.
- Không khách sáo chớ.
- Cũng tùy.
- Ong độc là ở cây kim.
Độc nhất vẫn là con tim đàn bà…
- Hứ! Nè anh, em là cô gái… nà!
- Em là cô gái anh yêu.
Nhớ em khôn tả sớm chiều bâng khuâng.
- Anh xuất khẩu thành thơ đó à.
Cảnh tủm tỉm cười, dí dỏm và hồn nhiên lồng tấm ảnh của chàng vào trong khung hình trống để trên bàn. Rồi ra vườn tự tay chàng cắt mấy đoá hồng nhung, Cảnh đem vô cắm vào cái lọ, (anh vừa rửa sạch và thay nước mới). Anh đến gần bên tôi, tự nhiên đến nỗi… tôi cảm thấy như việc anh quen biết tôi… cứ coi như thân thiết từ đã lâu rồi. Cảnh nhìn tôi mỉm cười, và nhẹ đá hàng lông mi dài cong cong, chàng tình tứ cười cười quàng tay qua vai tôi. Tay kia chàng chỉ bức ảnh và lọ hoa:
- Em thấy sao?
- Thanh lịch lắm. Anh biết cách cắm hoa.
- Không. Em hãy quan sát anh ấy chớ. Em thấy anh ra sao kìa?
- À. Lính oai hùng và khá dễ coi.
- Dễ thương không?
- Không biết nữa.
- Không biết là phải.
- Sao cơ?
- Vì… khi anh đã yêu, thì Lính Võ Bị rất dễ thương.
- À ra vậy.
- Anh muốn xin cùng em, cho “Lính ấy” ở lại mãi trong ngôi nhà nầy. Em chịu không?
- Anh không sợ chứ.
- Không có gì cản được, khi tình yêu chân thật đến.
- Anh tin như vậy à?
- Hẳn nhiên rồi.
* * *

Câu chuyện “tình Lính Võ Bị” chợt đến, làm ngây ngất lòng nhau từ hai phía chúng tôi, đã dừng lại ở đấy. Không thân thiết hơn qua vòng tay anh buông hờ trên bờ vai áo len mầu tím hoa sim. Cũng là lần đầu tiên Cảnh mời tôi đi ăn tối ngoài tiệm; trước khi tôi tiễn chàng lên xe taxi, để Cảnh trở vào quân trường. Nơi mà ngày thường Cảnh sẽ mặc quần áo kaki vàng, đội mũ nhựa, hay nhiều lần chàng kể cho tôi nghe:
- Anh ẵm vợ con giơ lên đầu để chạy quanh cột cờ, và có khi anh bị hít đất lia chia.
- Anh nói sao? Dám ẵm vợ anh à!?
- Ah ha! Có nghĩa là: Súng là vợ, đạn là những thằng nhóc con. Úi! Nặng kinh khủng em à. Các anh phải cặp súng đạn ở sát bên mình như… đầu gối tay ấp vợ vậy mờ!
- Em ghét nhất là cái tướng cứng cỏi khi anh… ăn cơm à.
- Em không rõ, chớ đó là một “đặc thù” rất lịch sự của con nhà tướng. Em à! Trước khi ngồi vào bàn ăn, anh phải kéo ghế ra, làm nhẹ nhàng thôi, không cho gây ra tiếng động à nha. Ngồi lưng thẳng đứng, ngực ưỡn ra.
- Coi giống người máy thấy mồ!
- … Tay bưng chén cơm giơ lên ngang miệng, và-cơm ăn nhanh, mà lịch sự không húp rột rột, không hả miệng nhai ngồm ngoàm, hay cười nói ba láp khi còn thức ăn ở trong miệng nghe.
- Hứ. Ai …chẳng như vậy!
- Vậy mà đôi khi cũng có người vội vã ăn, nên “rớt đài”, bị phạt hoài đó chớ!
- Ui xà…
Tôi đi dạo phố bên Cảnh kèm theo nhiều vui thích và cảm thấy thật hãnh diện. Đôi má tôi ửng hồng, e lệ nép hờ bên cánh tay chàng. Tôi liếc nhìn thấy người người đang đi trên phố, hầu như ai ai cũng quay đầu lại nhìn một kiều nữ thẹn thùng, ăn mặc model, đã sánh bước cùng một Sinh-viên Sĩ quan Võ Bị tốt tướng. Họ không ngại trầm trồ xuýt xoa khen chúng tôi đẹp đôi.
Từ nay, như đã ước hẹn, thỉnh thoảng bất đắc dĩ Cảnh mới vào nhà anh chị của tôi. Lúc nào bất ngờ Cảnh có phép xuất trại, chúng tôi không thể hẹn trước với nhau, vì nhà nầy không có đường phone. Ngoài ra, khi nào Cảnh thấy cửa sổ phòng riêng của tôi trên lầu mở; ấy là lúc tôi có ở nhà. Cảnh sẽ dùng “cái còi tu huýt của hướng đạo” thổi lên ba tiếng ngắn và một tiếng dài lê thê, để báo hiệu. Khi nghe “tiếng tu huýt gợi tình xuân”, tôi sẽ hiện ra bên khung cửa vui vẻ vẫy chào chàng.
Nhìn thấy nhau rồi. Cảnh sẽ tà tà đi xuống đường Phạm Phú Thứ, và chàng đi lui đi tới chờ đợi tôi nơi đó. Cái trò chơi “cút bắt” nầy khiến tôi thích thích, vui vui hẳn lên. (Vì, khuôn viên khu đất ngôi biệt thự nầy nằm ngay ở đầu góc của đại lộ Yersin và Pasteur; từ trong nhà ra ngoài sân quá rộng, khá xa. Người ở trong nhà không thể nào nghe tiếng gọi, nếu họ không bấm chuông ở ngoài cổng lớn).
Thật ra, tôi đã lớn khôn, sắp ra trường và đang đi làm việc, nên tôi có chút tự do, độc lập cho chính thân hay quyết định tình yêu đời mình. Ấy vậy mà… Khi sống chung dưới mái nhà anh chị Tuế. Tôi không muốn Cảnh đến nhà nầy nhiều, dù anh chị Tuế ưa hay không ưa ai, thì có mắc mớ gì! Họ không hề tìm hiểu về tâm tư, tình cảm hay lối sống của người tôi quen biết ra sao. Nhưng chúng tôi vẫn e ngại anh chị Tuế la.
Vã lại, cá tính của anh rể buồn vui bất chợt. Có khi anh rể quá vui vẻ nồng nhiệt chào hỏi bạn của tôi. Và, khi nào “trái gió trở trời” ủ dột, giông tố, anh Tuế bốc đồng trở chứng nổi cơn tam bành lục tặc lên. Thì nếu ai đến nhà, có là quan, là tướng tá đi chăng nữa, anh rể cũng la, cũng mắng và xua đuổi, anh rể bất lịch sự chửi như tát nước vô mặt khách. Thì tôi bị quê và người bạn ê mặt quá chừng. Thật xấu hổ!
Còn ý của tôi ngày nay đã nghiêng về Cảnh hơn vài ba bạn trai khác (bạn đúng nguyên nghĩa). Một cảm tình dành cho Cảnh khá đặc biệt, sâu thẳm từ từ vươn lên trong tâm hồn tôi. Quả thật tình nhẹ như mây, đằm thắm như tơ trời vương trên đỉnh Lâm Viên… Cũng nhờ tiếng còi tu huýt thay tiếng chim cất giọng ngân réo gọi mời chào! Và, Cảnh là người con trai “dễ thương nhất” mà tôi muốn chọn, để bầu bạn. Tâm sự. Chia sẻ; hầu xoa dịu nỗi niềm.
Đi bên nhau giữa khung trời thơ mộng, thoáng mát, từng giọt sương mọng rung rinh trên ngọn lá anh đào, rồi tí tách rơi xuống đám cỏ bồng bên vệ đường; có lần Cảnh đã nói cho tôi nghe mấy câu sau:
I have been waiting for you to return.
To this home of yours and hear the enchanting heart.
From spring through summer to chilling autumn.
I have been consistent in keeping my thoughts for you only…


_ * _

Ái Ưu Du



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 23:43:53 Dec 28 2009 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL

Chàng Mạc A Kíu Dễ Thương Chi Lạ!





Trong phòng làm việc Tâm Lý Chiến có anh Mạc A Kíu là người hiền lương chân thật, đến mức thật thà ngây ngô, mà rất dễ thương, chịu không nỗi. A Kíu thích uống nước đá thật lạnh, nhai nước đá cục rốp rốp. Trong lúc Kíu ăn cơm nóng sốt vừa thổi phù phù vừa húp rột rột rột. Kíu lại vừa uống ừng ực nước đá lạnh ngắt. “Răng của ảnh” chịu không thấu bỗng dưng ấm ức dỗi hờn, đau đớn sưng vếu lên một cái, nó xìu xìu ễn ễn lạnh lùng bỏ chàng mà đi.
A Kíu tức mình quá chừng khi thấy bộ dạng mình coi vếu váo xấu xí, nên chàng hăng hái đi bọc một chiếc răng vàng, để trám vô ở lỗ trống. Thế là hai hàm răng cũ thấy cái răng… “dzàng giàu có, đẹp gziai” kia, so với mình sao mà xa lạ quá, chúng càng bực bội dỗi hờn thêm, bèn rù rì to nhỏ... từ từ rủ nhau xa lánh “anh răng dzàng”, mà a dua... hè nhau tiến lên a chu, khiến răng của A Kíu rụng đi gần hết cả hàm dưới. Răng hở thì môi lạnh, môi buồn, môi chán, môi đau... càng nhức bưng tới óc; nên mỗi lần ăn cơm ăn cháo gì, A Kíu cố cho hàm răng trên thấn ái đi gặp hàm niếu dưới, ngỏ hầu thăm hỏi xã giao nhau tí chút. Nhưng chúng nó đã thất lạc trong cuộc đời “răng với riết” mất toi rùi. Một chiếc răng vàng cô đơn độc mã không hiểu tiếng nói của nhau, thì còn răng mô mà dám cười! Hỉ!?
Hàm răng mệt, cái mồm mệt, chàng không thể nhai thức ăn; cơ thể mệt, bộ óc chàng cũng dần dà mệt lã theo. Thiệt là phiền toái đa! Cả hàm răng tất nhiên là có nhiều hơn hai “cái bờ môi”, nên “cái bè đảng răng” nó rủ nhau biểu tình, biểu tọt, cùng xông pha... lang thang đi tìm trẻ lạc mất răng. Hàm răng của chàng bây giờ thì cái sún, cái bọc vàng, cái lổn chổn. Coi thật dị hợm, khó coi, khó chịu quá chừng chừng à. A Kíu không nhớ gì hơn ngoài việc lo lắng cho "cái bộ gió" của mình. Vì “cái răng cái tóc, là gốc con người” mà! Vì... và vì... Kíu còn phải lo “canh tân o bế” hầu dợt le cho “răng với riết” ; để:
Rượu nào là rượu chẳng nồng.
Trai nào chẳng khoái: Lan, Hồng, Cúc, Mai... (cd)
* * *

Một hôm, được trưởng đoàn phân công, A Kíu là âm thoại viên cùng bạn công tác tại xóm Nghĩa Hành. Bạn Bé, và Châu đi nhanh quá. Còn A Kíu có phần bệ vệ, vì cái bụng lỡ mang thùng nước lèo khá lớn, (so với chiều cao). A Kíu ì à ì ạch leo lên dốc. Chàng che tay nhìn ngang nhìn dọc không thấy hai bạn đâu. Mất hồn mất vía, chàng ngồi phịch xuống trên gò mối, nghỉ mệt. Đã lo sợ lạc đường, tự dưng cái bụng phệ của A Kíu sôi ọc ọc... ục ục, như muốn biểu tình, phản đối giờ cơm đến trễ.
A Kíu lom khom đứng lên, bỗng máy PRC-25 phát tín hiệu. A Kíu lại ngồi vật ra, duỗi hai chân chụp lấy máy, mở tầng số liên lạc. Nghe xong, “anh ta ca”:
- Cái lày ngộ xin “lại ý dui loòng” chỉ cho. À, ló lại tẩy chay ngộ, bạn ló li lâu mắc dồi, bỏ em lứng dứi gót cay phựng. Bạn ló hỗng biéc liều a. Em hỏn biéc chỗ lào, lễ li dề à. Lần lầu tiên mới dề qua lay. Hỏn béc dớ cái đừng đi dề a.
Thọ, Đan, và Nhã phì cười. Nhã trêu chọc:
- Đi mau mau mới kịp bạn. Phải biết "giác ngộ" cho tiêu bụng mỡ chứ.
- Ngộ béc dát ngộ mờ. Có gì ngộ ngộ, thì ngộ dát dề cho a.
Có trời biết làm cách nào A Kíu trở về an toàn, khi lưng đeo máy truyền tin, vai đeo ba lô cá nhân, vai kia vát thêm lưỡi cày, chả biết chàng nhặt ở đâu. A Kíu nói:
- Nó “giác ngộ” quá, thì “ngộ dát” dề a.
Thọ vừa tức, vừa vui cười hóm hỉnh kêu trên loa phóng thanh:
- Có ai mất lưỡi cày, xin cho biết. Phòng mang trả lại ngay.
Một lần khác trong phòng đang ăn cơm, thì Chỉ-Huy-trưởng gọi máy dã chiến xuống, bắt anh em nộp bảng: "Dự trù Kế Hoạch A. Tối cần".
A Kíu quên chưa cúp máy, anh ta láu táu báo trình với Đan:
- Xin báo với “thựng” cấp là tối cần, “bạng” dự trù kế hạch A, chớ sáng thì “hỏn” cần.
Ngờ đâu Chỉ-huy-trưởng đã nghe được. Trời ơi! Hậu quả ăn với nói lầm lẫn và hiểu sai nghiã. A Kíu bị “an nghỉ” năm ngày trong chuồng cọp. A Kíu “được” muỗi đốt thỏa thích. Chàng nằm co rúm chèo queo vỗ bụng đau bình bịch, để chờ Phòng Nhì điều tra.
Toàn Phòng 5 đều gửi “thỉnh nguyện thư” lên Chỉ-huy-trưởng, họ bảo đảm hạnh kiểm, hành vi của A Kíu. Sau khi A Kíu làm mọi thủ tục tường trình, chàng được tha khỏi chuồng cọp. Từ đó, chàng câm như hến, không dám thèo lẻo bép xép cái miệng ăn mắm, ăn muối nữa. A Kíu tình nguyện “xuống cấp” để làm hoả đầu quân ở trong Sư-đoàn, cho chắc cú. A Kíu nấu ăn thì ngon tuyệt, y như Tàu Hồng Kông vậy. A Kíu ưa vỗ vỗ vào cái bụng phệ mà cười ha ha ha:
- Giàu chủ kho. No nhà bếp rồi thì… chóng chết là vì quản voi he!
***

A Kíu kể chuyện tình của anh ta với cô bồ ruột ở Chợ Lớn, vui và cũng buồn hết biết, chuyện như sau:
A Kíu đã “phải lòng” một cô trông kha khá ở gần nhà. Chàng đã:
Năm canh ngớ ngẩn buồn rầu.
Nhớ người nhân nghĩa gan sầu ruột đau. (cd)
Sau khi A Kíu đã vào nha sĩ bọc thêm những chiếc răng vàng oai vệ đáng bậc “răng nhi”, thế là chàng lân la đi la cà làm quen nàng Đào. Ai ngờ “ẻm” cũng “chịu đèn” mình quá sá cỡ thợ rèn! Thiệt là mừng húm!
Nắm tay em tròn như ống chỉ.
Lòng dạ anh đây phỉ chí muốn kết duyên.
Ngày nay hỏi thiệt bạn hiền: “thương không”.
Anh ăn ở có lòng, em phải gắng công.
Một trăm năm em cũng để phòng không, đợi chờ... (cd)
Thế là nhân một ngày "mùa thu lá bay", để kỷ niệm ngày đầu tiên “Anh và Em” yêu nhau say đắm, hai anh chị vui vẻ hẹn hò nhau đi ăn ở nhà hàng Arc Enciel. A Kíu bảo nàng:
Ai đi đợi với tôi cùng.
Tôi còn dỡ mối tơ hồng chưa xe.
Có nghe nín lặng mà nghe.
Những lời em nói như xe vào lòng. (cd)
- Em ui, em là Ba Chệt, thì em cứ hiên ngang, can đảm vui vẻ nhận mình là Ba Chệt. Sợ gì ai mà ba má giữ rịt em ru rú ở trong nhà he? Hay em sợ mắc cỡ sẽ ló cái đuôi sam ra ha!? Em hãy mặc áo Thượng Hải, hở ngực, hở nách, xẻ hai bên đùi, lên sát bắp vế, thì coi em càng khêu gợi chớ sao! Cho anh sung sướng dẫn em đi dợt le. Anh muốn tụi mình nên đi cà nhỏng, cà nhãnh, cà rịch cà tàng chút xí. Mình lên mặt làm dáng, làm dóc, làm le, làm tàng nha. Em cứ giựt nổi, chơi trội đi khoe với đời. Em không nổi như cái rốn của vũ trụ. Thì đời mình mất vui, kém hạnh phúc đi. Nha.
A Kíu vui vẻ "phỉnh" nhẹ nàng thôi, chứ nếu chàng gallant trắng trợn, thì còn ra cái thể thống gì bậc mày râu! “Ẻm” nghe chàng miệng lưỡi ngọt xớt như mía lùi, thì ai mà không mê tít thò lò chớ́. Thế là nàng trẻ người non dạ, õng ẹo đi qua đi lại trước gương soi mà ngắm nghía, và toe toét cười. Đúng là coi mình cũng ngon lành ra phết, như miếng thịt mỡ treo trước mõm mèo. Ngu sao mình không chờ thời cơ, thiếu giống gì mấy chàng trai trẻ, sẽ nườm nượp liếc mắt đưa tình he!
Nàng lóc chóc hí hửng thích thú mặc xiêm y, thân hình chưa phì lũ lắm, chàng trông nàng ngon lành, coi cũng đẹp hết sẫy í chớ. A Kíu thì mặc bộ áo quần vía veston hồ ủi thẳng nếp li láng cón, đầu chàng chải brillantine bóng mướt, con ruồi đậu trên tóc cũng phải té trợt cà. Kíu mang đôi giày đen nhọn mũi hoắt cao. "Anh Em ta” leo lên taxi (“cho... tới luôn bác tài”). Hai người xuống xe, cầm tay nhau dung dăng dung dẽ, cười cười liếc liếc, lí lí lắc lắc… họ ung dung tà tà đi dạo coi “thái mái” lắm. Thì cái bóp đầm của nàng lủng la lủng lẳng đung đưa có đựng vài đồng bạc lẽ, bỗng bị "bàn tay anh tài” cướp giựt mất, lẹ như chớp.
Bị bất ngờ, nên nàng trợt chân té, chiếc giày cao gót, văng lông lốc tuốt dưới chân thang lầu. Đau quá là đau, nàng nghiến răng trèo trẹo. Nàng ngồi chò hỏ nơi bậc thang, mặt tái xanh không còn chút máu. Mồ hôi hột rịn vã ra ở hai bên thái dương, "ẻm" bủn rủn tay chân, thầm nghĩ:
- "Chắc là ma nó xô cho mình bong gân, lọi giò đây. Chứ cái thằng ma-cô cướp cạn, nó ốm nhom ốm nhách như đồ xì ke, đuổi ruồi còn không bay. Nó làm gì mà xô mình lọi giò được ha?".
Vô tình nàng "để quên sự đời em ra". Thây kệ mặc khách tao nhân, đi lên, đi xuống cầu thang, họ cứ quay lại nhìn, cười hi hí, và ngó sững "chỗ nớ" đã đời.
Chàng thanh niên non đời lóc chóc đã nén giận, A Kíu cắn môi chạy xuống chân cầu thang lượm giúp nàng chiếc giày. A Kíu đứng xớ rớ dưới chân thang, chàng vô tình chờ mặc khách tao nhân chen lấn đi lại đông đúc nhìn lên.
Bỗng A Kíu thấy em oăặ… oằn người, và “chỗ nớ” coi tổn hổn, rõ mồn một. A Kíu giật mình xấu hổ, mặt anh chàng đỏ tía, tai nóng rần rần, hai bên thái dương chàng giật tưng tưng, trái tim co xiết túi bụi. Mắc cỡ muốn độn thổ, A Kíu cầm chiếc giày cao gót sút đế, chàng vụt nhảy lên một lần hai ba bậc cấp. A Kíu ném chiếc giày vào bụng nàng, kêu cái "biịcch"… Chàng trợn mắt nghiến răng trèo trẹo, cằn nhằn:
- Đứng lên mau! Con gái, con nai gì không có ý tứ, lại mặc cái "xì níp" nhỏ xí, rách háng trơ trẽn quá. Có thấy thiên hạ đang dòm ngó em không? Hứ! Lại còn ngồi thộn ra… xí xọn, nhí nha nhí nhảnh ghê ta.
Nàng tức giận lên cực điểm, đến tím mặt, bầm gan. Đã không dỗ dành khi người ta đau điếng, thì thôi. Chàng còn lên mặt la mắng tui cái nỗi gì, giữa chỗ ba quân hử? Nàng nghiến răng trèo trẹo, liền xổ một tràng tiếng "Háng" văng cả nước bọt khiếm nhã ra:
- Ai biểu, tại nị nói: nị thít ngộ đi “phe” với đời mờ. Ngộ không bét. Ba trợn á. Ay da dà! Cái đồ dóc tổ a... Tô chè a.
Tự ái dồn dập mà! Tuy nhiên, thấy nàng xù ra như lông nhím, Kíu cũng biết điều, chàng nâng cánh tay nàng lên, liền hạ mình hạ giọng, năn nỉ ỉ ôi.
Nàng được trớn, càng lên mặt vênh váo, lì lợm, làm le, làm dóc, làm tới, làm tàng không thèm hòa. Nàng xù bộ mặt rất ư dễ ghét ra, chàng trông nàng thiệt ngứa mắt quá chừng chừng! Xách chiếc giày sút đế lủng lẳng, nàng vung cùi chỏ hất mạnh tay “người iêu”. Nàng cà niễng cà giật cà thọt một chân cao chân thấp, nàng nhoi nhoi cái đít vịt đi điệu “bì bộp, xô-lô-rốc” chấm phẩy. “Ẻm” leo lên taxi... cho tới luôn bác tài. Bác ta rồ máy chạy cái vù. Giữa đám thị dân đang kinh ngạc nhìn theo.
Thế là Kíu nổi máu anh hùng lên, bỏ đi một nước, giang hồ biệt tích. A Kíu leo lên xe “đi quân dịch là thương nòi giống”:
Năm xưa em bảo đợi chờ.
Năm nay em lại hững hờ với anh (cd)
Thời gian trôi qua, chàng đã nguôi ngoai nỗi “sầu đời”, đã vui vẻ hát điệu… tẩu mã rất linh hoạt của dân ca Huế.
Bây giờ tình nghĩa làm sao.
Cho chuông chẳng bén bồ lao chẳng bền?! (cd)
Thôi! Hãy thả tình trôi theo giòng thời gian... Chả còn gì cho “Anh và Em”. Thật chả còn gì cho mối tình mà chàng nghĩ từ nay đúng là: Thứ cà tửng, cà tàng, cà khịa, cà ná, cà chớn, cà pháo, cà chua... Khi nàng ù té chạy làng, lê bước chân què leo lên con đò, ca bài “Sang Ngang” của Đỗ Lễ, cho mối tình xưa đi đứt theo đuôi con nòng nọc, mất toi.
Năm nay em phải lấy chồng.
Không vui thì cũng bằng lòng mẹ cha. (cd)
A Kíu dứt khoát mọi điều khẳng định là phải quên. Như đinh đóng cột vào vách. Như ngôi nhà quay mặt về núi. Muôn đời không thèm đối diện với biển cả.
* * *

Nghe tin Lính Phòng 5 được về hậu cứ sớm hơn dự định, A Kíu nổi tiếng là trùm sò, chuyên môn cho anh em "ăn mắm mút dòi". Nay chàng là người hào phóng, trước tiên A Kíu vát cái bụng phệ, đi quăng mùng mền quần áo cá nhân. A Kíu cần cho ba lô cá nhân nhẹ bớt ký mà. Rồi chàng lấy ly, tô, chén, son, chảo, nồi… ở trong thùng của đoàn dân vận ra, chàng đập bể hết. Trả thù tình và trả thù đời! A Kíu xán cho bằng thích hai bàn tay mập ú. Các anh khác cũng bắt chước làm theo, họ lôi tô chén trong ba lô cá nhân ra, xán bôm bốp xuống nền gạch. Nghe “đã” thiệt ta!
Đùng một cái Trưởng-phòng đi họp về báo tin Phòng 5 phải ở lại thêm bốn ngày. A Kíu ngồi thộn ra nhăn nhúm, méo mặt như cái nồi son. Lấy cái gì xào nấu cho anh em ăn đây hở Trời! Thật chán mớ đời. Mấy ngày đó, anh em chịu trận giữa cơn rét rừng luồn vào tủy sống. Các anh chẳng dám mở miệng kêu than nửa lời.
Ngày ngày A Kíu xin phép Trưởng-phòng 5 cho ra nấu ăn nhờ ở nhà dân, chàng đi bắt ốc mò cua, bẻ măng, rau núi, hái rau sam, rau dền, rau đắng mọc hoang, luộc cho anh em ăn tạm đỡ lòng, với thịt hộp xin của đồng đội bạn. Thật may vừa có lệnh trên ban hành cho anh em Phòng 5 leo lên xe về nhà. Mấy anh mừng húm.
Tất cả câu chuyện về bạn bè thân thiết, cùng hoàn cảnh, không gian và thời gian, thoáng hiện ra trong tư tưởng Đan, dưới ánh sáng màu thiên thanh kỳ diệu. Đan mỉm cười về vài mẫu chuyện vui vui, tương tự như thế; hầu quên đi nỗi nhọc nhằn trong đời lính chiến phong sương. Tạm quên bao khổ đau cuộc sống đùn lên trong đời Đan và tất cả quân nhân khác.

(*) ca = ca dao

_ * _


Ái Ưu Du



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 16:18:47 Mar 10 2010 Go to Top of Page

Ái Ưu Du

Từ: U S A
323 bài

 Show Profile Send Ái Ưu Du a Private Message  Reply with QuoteTrả lời bài này Liên kếtURL

Ái Dà Dá Da… Vợ Ui Vợ !



Buổi kia, gia đình Năm Tony đi “coi mắt” vợ là: cô Bạc Phùng.
Hôm ấy, ba má, mấy chị, em, Bà Ba Hồng, Tony Năm, cùng nhau leo lên xe hơi nhà, đi đến vùng Phú Thọ. Tony chỉ thấy thoang thoáng hai cô gái ỏn ẻn ra bưng trà, vô bưng nước để mời khách. Cô nào cô nấy cũng xinh xinh, đẹp đẹp, nho nhỏ nhí nha nhí nhảnh ui la la dễ thương.
Bà Hồng nháy mắt nhìn chàng, cười cười. Từ đó, cả nhà xúm lại “thuyết giải” Tony về bổn phận, và “nghĩa vụ gia tộc” của cậu con trai trưởng là: cần phải nhanh chóng “lấy vợ báo hiếu”, để cha mẹ có tí cháu nội bế bồng hun hít.
Tony uể oải gật đầu. Vì thế ai ai cũng vui vẻ mách nước với Năm:
Lấy vợ nên lấy vợ non.
Tóc thề mườn mượt xỏa eo thon.
Mắt sáng, môi hồng, da tươi thắm.
Đỡ tiền mua sắm những phấn son.
. . .
Lấy vợ xin anh lấy vợ già.
Ra đường “ẻm” biết chuyện gần xa
Lỡ anh đi lạc thì em nhắc.
Cũng tốt cho anh đó thôi mà.
Và chu đáo hơn, ba má anh chị em của chàng còn khuyên Tony Năm nên kiêng:
Lấy vợ nên kiêng lấy vợ hô.
Hàm răng lởm chởm nói bô bô.
Rủi khi “bà” giận ôm chồng cắn.
Đổ máu phu quân chạy thấy mồ.
Lấy vợ không nên lấy vợ ù.
Đêm nằm ôm vợ tưởng ôm lu.
Rủi khi mà nó đè lên bụng.
Bẹp xác ông chồng khóc hu hu.
* * *

Thế là cứ cách vài ngày, Tony lại đến nhà cô ta để “tìm hiểu nhau”. Hôm trước cả nhà chàng đến coi mắt Phùng, thì cô ta lại đi vắng. Bây giờ, ngồi ở trong phòng khách, chàng nói với Phùng chuyện “trên trời dưới đất” cũng có phần lạt lẽo, hai người cố gắng nói tào lao xịt bộp cho vui vui thôi, rồi Tony đi về.
Tony và Phùng chưa có một lần đi chơi riêng ra ngoài. Ngoại trừ có một lần duy nhất, Phùng hẹn chàng ở đầu đường, để chở Phùng đi xem bói, (vì nàng không muốn cho người nhà, và người yêu của nàng biết. Dù sao thì người yêu của nàng còn là anh học trò lớp đệ Nhị, con nhà khá… nghèo). Phùng phân vân muốn coi bói thử có nên lấy anh chồng con nhà giàu xụ nầy không, và số phận của nàng và “anh nầy” ra sao? Phùng sợ chớ:
Chồng Tây kịch cợm như voi
Đêm lăn đè trúng chắc lòi phèo luôn
Chồng Tàu ăn mãi nước tương
Đứng gần nồng nặc mùi hương xì dầu

Chồng Lào mê được chỗ nào?
Nhỏ con, èo uột xanh xao gầy còm
Chồng Phi Châu chúng đen ngòm
Tối về cúp điện dòm hoài không ra!

Chồng Mỹ dâm đãng lắm nha
Nếu không khéo giữ chắc là teng beng
Chồng Đài Loan có máu ghen
Léng phéng nó biết, sớm lên bàn thờ

* * *

Tony dặn dò Phùng:
- Em đứng chờ anh ở cột xe bus, gần ngỏ vô nhà em nhe.
Thì cô ta lại tưởng là chàng hẹn Phùng đợi đâu đâu, đi xa lắm. Nên hai người lạc nhau cả ba giờ, làm gì có phone mô mà gọi? Gặp nhau rồi, Tony lái xe hơi chở Phùng đi xem bói xong. Hai người đi về ngay.
Vì, Ông thầy bói thấy chàng Tony “tốt tướng”, con nhà giàu xụ, đi xe hơi láng cón, ông thầy nhìn Phùng một lúc, cười cười nói:
- Cuộc hôn nhân nầy rất đẹp đôi. Xứng đáng mà! Yên trí lớn sẽ sống với nhau suốt đời. Chả cần phải “khách sáo” mời mọc nhau đi ăn uống, chuyện trò thân mật hỉ? Anh muốn sao, trời cũng chìu anh à:
Lấy vợ xin anh lấy vợ lùn.
Áo quần em mặc, vải hay thun.
Người cao một bộ, em hai bộ.
Tiết kiệm cho anh gấp bội phần.
Rồi ông thầy bói lại nói thêm là anh chị sẽ rất hạnh phúc đó:
Lấy vợ xin anh lấy vợ cao.
Chúng mình đùm bọc lẫn cho nhau.
Cây trái anh thèm, em tay với.
Đỡ mất công anh bắc thang trèo.
Nàng vui vui đã năn nỉ ông ba bà má:
Má ơi cứ gả con xa
Miễn sao chàng rể trong nhà nhiều “đô.”
Thương anh chín đợi mười chờ
Đến khi mười một, em “lờ” anh luôn!
Cha mẹ hai bên đã gặp nhau, bàn thảo kỹ càng, coi xôm tụ về việc hôn nhân. Ngày chủ nhật, tức là một tháng sau khi quen sơ giao, thì làm đám hỏi, tổ chức tại nhà ba má của nàng. Đầu tháng sau, đám cưới Năm+Phùng vô cùng long trọng ở nhà thờ. Buổi tối, chiêu đãi thân nhân, họ hàng, khách khứa tấp nập, đông đúc và trọng thể tại nhà hàng Quốc Tế. Hai “anh chị” chả cần biết:
Dây tơ hồng quấn quanh chuồng lợn
Tình chúng mình có “tợn” lắm không?
* * *
Suốt cuộc hành trình đi tìm kiếm hạnh phúc lứa đôi, Tony chỉ như là con “rô bô”. Như kẻ mất hồn. Như Thiên Lôi, ai sai đâu tui đánh đó vậy. Chàng kết thúc một giai đoạn cũ với những mối tình lăng nhăng. Không ai hiểu tôi hết. Họ tưởng tất cả quá khứ đầy sóng gió của chàng đã chìm vào quên lãng. Chỉ có Năm Tony, và may ra, duy nhất chỉ còn cái “mùi của hoài hương xưa duy nhất của Mi Mi”, mới hiểu rõ Năm Tony tui đớn đau như thế nào mà thôi.
Ngay từ buổi đầu tiên trong ngày “honeymoon say đắm” kia, Tony lái xe hơi ra nghỉ ở Vũng tàu. Dọc đường đi, có một cặp khác vui vẻ trẻ trung, cũng lái xe hơi chạy gần gần bên xe hơi của họ. Khi thì xe Tony qua mặt xe của cậu ta. Khi cậu ta qua mặt xe chàng. Cả hai người nam cùng vẫy vẫy tay cười cười vui vẻ. Nhưng Tony thấy mặt Phùng xù ra như lông nhím. Tony nghĩ thầm:
- “Không vui rồi”. Chắc có lẽ… bởi nàng:
Lấy vợ xin anh lấy vợ ghen.
Vì anh, em gác cửa cài then.
Vì anh, em mới làm như thế.
Nên đành phải thức trắng đêm đen.
Tony cho xe chạy chậm lại, giả lả với Phùng vài câu chuyện vui, để khỏi mích lòng vợ. Ấy thế mà, Phùng im thin thít, bĩu môi, lạnh lùng quay mặt đi ra vẻ khinh bỉ. Tony cảm thấy xấu hổ với cặp kia, lại tức vợ cành hông, nhưng cố nhịn nhục.
Vào lấy phòng trong Hotel xong, Tony soạn áo quần móc vào tủ. Má của chàng chu đáo lắm. Đã mua sắm cho con dâu đầy đủ, tỉ mỉ mọi thứ quần áo, đồ dùng sang trọng. Không thiếu món gì.
Trong khi chờ đợi vợ đi tắm, Tony nằm đọc báo ngoài balcon. Tắm xong, Phùng đi ra chỗ chồng nằm. Từ trên lầu tư cao chót vót nhìn xuống sân. Bỗng Phùng chỉ tay xuống đất, gọi giật chồng lại, hét to:
- Coi hai cái đứa mất dạy kia kìa. Chúng nó bám riết theo ta. Cố ý chọc quê tụi mình đó.
- Không phải đâu em. Chỉ là sự tình cờ, trùng hợp ngẫu nhiên thôi.
- Xì. Tình cờ gì! Mình dời đi chỗ khác. Đi anh.
- Sao lại vậy?
- Anh không đi hả. Nếu anh thích, cứ ở đây với chúng nó.
- Em kỳ ghê à nha.
- Ừa. Em như vậy đó.
Thế rồi em & anh…
Suốt ngày oán trách với chồng.
Lúc xưa thì vậy, giờ không còn gì...
Cái hôm mà nàng vu quy.
Ta biết ta sẽ bị ... đì lai rai.
Khổ thân cho kiếp con trai.
Một lần lấy vợ bằng hai lần... mù.
Lưng thì mỗi ngày mỗi gù.
Cày ba bốn jobs để... bù nàng tiêu.
Thế là…, Tony đành phải thu xếp đồ đạc. Dời đi hotel khác. Trả phòng, chàng phải nói dối với bà chủ là: Có “điện tín”, cần về Sài Gòn gấp. Dĩ nhiên là mất toi tiền phòng vô lý. Dời đến hotel xa thật xa bờ biển. Khi xuống garage lấy xe hơi, hai người lại “đụng độ” với cặp vợ chồng trẻ lúc chiều. Họ vồn vã hỏi thăm “anh chị”, rất lịch sự:
- Chào anh chị. Sao anh chị không ở hotel nầy, cho vui nhỉ?
Tony bắt tay ông chồng, vội trả lời:
- À... Chả là vì, có bà con ở đằng kia, đã lỡ hẹn phòng cho chúng tôi rồi. Cám ơn anh chị. Chúc anh chị những ngày nghỉ vui vẻ nhe.
Phùng lườm nguýt họ một cái rất dài, cô xù mặt quay đi. Lên xe, trước khi đóng cánh cửa xe hơi “cái rầm”, Phùng thò đầu ra cố ý đốp vào mặt họ:
- Cái thứ đó. Nói chuyện làm gì!
Hai vợ chồng trẻ kia sửng sốt, đứng ngây ra nhìn Vi. Họ nghe rõ mà.
Lấy vợ xin anh lấy vợ hô.
Lỡ sau mà có gặp côn đồ.
Em cười, chúng tưởng Chung Vô Diệm.
Hồn xiêu phách lạc cõi hư vô.
Nói chung, trong tuần lễ “trăng mật”, chả vui vẻ gì! Ui! Cải nhau suốt bốn năm lần. “Chàng” rủ “nàng” đi tắm, thì nàng kêu mệt, bỏ đi nằm ngủ. Khi “anh” mời “em” đi ăn, thì em chỉ thích coi ca nhạc, chồm lên cười hô hố. Hai người đi tắm nửa chừng, nàng nói “không vui”, lại hầm hầm bỏ về phòng ngủ vùi.
Lấy vợ xin lấy vợ ngáy to.
Lỡ bề ăn trộm nó hăm ho.
Đêm khuya thanh tịnh em ngay ngáy.
Trộm tưởng thiên lôi chạy cao giò.
* * *

Cuộc hôn nhân nầy như một “trò đùa của định mệnh trớ trêu”. Vì quả thực, hai người vừa ăn ở với nhau, đã "phát sinh ra" đủ thứ chuyện rối rắm đầy mâu thuẫn. Mỗi người có một cá tính dị biệt. Rất khắc khẩu. Hầu như mọi vấn đề đều khác biệt lạ lùng. Tony ngậm ngùi dấu kín nỗi đau trong lòng:
Chiều chiều bìm bịp kêu chiều.
Lấy vợ thì cũng lấy liều mà thôi.
Ban ngày làm việc tả tơi.
Ban đêm hầu vợ, phận tôi đêm trường.
Nằm chung thì bảo... chật giường.
Nằm riêng lại bảo... tơ vương con nào.
Lãng mạn thì bảo... tào lao.
Đứng đắn lại bảo... người sao hững hờ.
Nếu “tôi” thích A, thì “người ta” lại thích Z. “Anh” thích màu xanh, “Em” lại thích màu đỏ. Giống như một chiếc xe hơi mới toanh, khổ nỗi lại có hai cái "vô-lăng” hai hộp số, hai cái thắng. Thì, “tôi” định rẽ về bên phải. “Người kia” lại muốn lái về bên trái. “Tui” muốn nhấn ga, thì “bả” muốn đạp thắng. Tréo cẳng ngổng. Mà con đường đời thì không phẳng phiu, êm ái trơn tru gì. Nó quanh co, gập ghềnh, lởm chởm, gồ ghề, uốn lên uốn xuống khúc khuỷu quanh co ghê lắm. Chả có lần Phùng đã “vui vui nhắn nhe anh” ngâm nga ra rả:
May ra vợ có... nương tay.
Ta mới sống trọn kiếp này dài lâu.
Làm chồng phải nhớ lấy câu:
"Nhất vợ nhì trời", đừng ẩu... phanh thây.
(Mình vì mọi người... mọi người coi mình như..."mọi.")… Bắt đầu “một mái gia đình hạnh phúc” như thế đó.
Chim quyên ăn trái nhãn lồng
Còn em sao lại hơi chồng “hổng” quen.
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Cưới nhau về tắt thở càng nhanh.
Từ đó, cuộc sống lứa đôi thật nhàm chán. Đến với nhau chỉ là bổn phận. Vì, thật ra cả hai không hề yêu nhau. Đây chỉ là một cuộc “gạ đổi”. Có nhẽ nào như chuyện ngẫu nhiên của “đôi đũa lệch, mốc, chọi mâm son”? Hai đứa không có thì giờ ngồi lại với nhau “tìm hiểu” kỹ càng trước khi bước vào hôn nhân. Chỉ như sự… “bắt đầu ngồi đó”, để “anh chị” làm tròn bổn phận của đứa con chí hiếu.
Tuy nhiên, Tony hy vọng (vẫn còn hy vọng chứ) khi sinh ra đứa con, Tony mong nó sẽ là cái gạch nối tình yêu hữu hiệu, giữa hai người sẽ tốt đẹp hơn. Tony cố “nịnh” vợ:
Vợ là cái máy đếm tiền
Vợ là "Nội lực" làm nên cơ đồ
Vợ là thủ quỹ thủ kho
Vợ là hạnh phúc ấm no trong nhà.
Thế rồi... Có một đứa con. Hai đứa con. Ba đứa con. Tony cũng chả thấy cái – gạch nối – nào cả!!!
Nàng than van:
- “Đồng vợ đồng chồng Con đông mệt quá”. Hay: “Con nhà tông không giống lông đỡ giống khỉ”. Thật là: "Tóc quăn chải lược đồi mồi. Chải đứng chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn".
Làm bổn phận người cha, chàng lo toan chu đáo. Đầy đủ, rất mực yêu thương các con. Làm bổn phận người mẹ, Phùng vẫn chăm sóc con toàn vẹn. Với sự hỗ trợ đắc lực của ông bà nội. Nhất là trong nhà có ba người vú em chu đáo lo riêng cho ba đứa con của họ. Ấy vậy, chàng vẫn hậm hực than rằng:
- "Lạnh lùng thay! Láng giềng ơi! Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều".
Vợ, từ thiếu nữ hiền lành.
Đến khi xuất giá trở thành... "quan gia".
Vợ là con của người ta.
Và ta quen vợ chẳng qua vì tình.
Có quan thì phải có binh.
Nên ta làm... lính hầu tình "quan gia"
Con ta do vợ sanh ra.
Nên ta với vợ... chẳng bà con chi.
Và càng ngày thì cá tính Phùng càng bộc lộ cơn bực bội, nóng nảy tam bành lục tặc quá vô lý. Cái lối “ăn trả nói treo” ngang tàng, hỗn xượt, với tất cả người khác trong gia đình. Nhất là "bố lếu bố láo" với ba má Tony. Phùng cóc cần ai và coi họ “như pha”. Tạo ra sự mâu thuẫn trầm trọng giữa mẹ chồng nàng dâu. Giữa chị em dâu, em chồng. Mặc dù, chàng biết rõ: Là ba má mình rất yêu thương con dâu; và chịu ép mình hạ giọng để nhịn nhục Phùng.
Điều nầy, khiến Tony càng xấu hổ, ngượng ngùng vô ngần, với chị, em, và mấy người làm bồi bếp đông đúc ở trong nhà. Ôi thôi! Ngày nào cũng như ngày nấy: "Nội-chiến tưng-bừng" à. Không khí trong gia đình ba má xưa, khi chưa có “dâu về”, không phải chàng tự hào, chứ quả thật là một đại gia đình có tôn ti trật tự, lễ phép và gia phong đâu ra đó, anh chị em trên thuận dưới hoà. Tương kính lẫn nhau như tân. Êm êm ấm ấm, hạnh hạnh phúc phúc thật sự. Đúng nguyên nghĩa hạnh phúc của nó.
Đến nay, khi đã “rước nàng dzìa Dinh”, mỗi ngày đi làm về, Tony đều phải “dàn xếp” những chuyện chả ra gì. Bên nào cũng trách:
- Sao anh sợ bả. Không dám nói vậy?
- Anh đừng “đội vợ” lên đầu. (Vợ là quả ớt chín cây.
Đỏ tươi ngoài vỏ rất cay trong lòng.
Vợ là một đoá hoa hồng
Vợ là "sư tử Hà Đông" trong nhà).
- Con vợ chẳng có giáo dục, hổn láo hết biết.
Ngày trước nàng dạ nàng thưa...
Nói năng dịu ngọt cho vừa lòng anh.
Anh tưởng hoa ở trên cành.
Bao giờ cũng đẹp, tươi xanh bốn mùa.
Lời nói không mất tiền mua.
Nên anh... ngọt lại cho vừa lòng nhau.
Bây giờ chẳng hiểu vì đâu.
Nàng mang chứng bệnh cứng đầu lặng câm.
Còn “nàng” thì khi thấy chàng có mặt ở nhà, đã đấm ngực la làng:
Chồng người ta làm ra khấm khá
Chồng của mình chỉ phá, chỉ ăn.
Lấy chồng cho đáng tấm chồng
Uổng công mai mốt lưng ong “hổng” còn.
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Cưới nhau về tắt thở càng nhanh.
Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện cự om sòm.
* * *

Chịu không thấu nỗi, nên ba của Tony đã cho họ một số tiền lớn, kèm theo số tiền “vợ chồng ta” dành dụm bấy lâu. Ba muốn họ dọn ra ngoài ở riêng, cho yên ổn. Vâng! Chính ông ba của chàng rứt ruột ra quyết định như thế. Tony biết là ba má rất thương con, cháu. Nhưng đành phải rời xa. Tony lo đi thuê nhà ở tạm bên đường Duy Tân.
Ra riêng rồi, tha hồ cho Phùng càng “tung hoành”. Những mâu thuẫn vợ chồng càng hiện hình rõ nét, trầm trọng hơn. Mặc dù chàng cố nghiến răng chịu đựng.
Trông nhìn ông bụt hiền từ
Ngó em cái mặt ôi như bà chằng!
Còn mặt thì cứ hầm hầm.
Nàng trợn một cái, ta... bầm mấy hôm.
Việc nhà chẳng chịu trông nom.
Shopping một bận, ba hôm mới về.
Nhưng trong lòng Tony quá đau buồn, chàng đi làm về, vừa mệt mỏi cởi đôi giày ra, là có chuyện không vui. Tony muốn ngồi lại đùa giỡn với các con tí chút, cũng không yên. Phùng cứ “lải nhải cằn nhằn" đủ điều bên tai chồng. Phùng dằn mặt chồng đánh đập con túi bụi, cốt ý chửi xiên chửi xéo "cái đồ hư đốn giống thằng cha như đúc".
Tội đức lang quân nằm kế cạnh.
Mất ngủ lâu ngày chắc phát ho.
Tony rất thương con, chịu không nỗi cái cảnh con bị hành hạ vô lý. Một là chàng ôn tồn can thiệp. Nhưng, càng vuốt ve, xoa dịu Phùng bao nhiêu; thì cô nàng lại càng có cái cớ, làm hung, làm dữ bấy nhiêu. Hai là chàng mặc áo quần, bỏ nhà đi ra ngoài phố. Tony bắt đầu chán. Chán không thể tưởng! Ra đường hoài, chàng không biết đi đâu; làm gì cho hết giờ? Tony lại chui vào mấy quán Bar, để gặp vài ba cô lôi kéo, hun hít, tán hưu tán vượn, cho quên buồn. Đợi đến lúc tối mịt, tối mò, nửa đêm, nửa hôm khuya khoắt, Năm Tony bò về nhà; chàng vẫn nghe ra rả bên tai tiếng Phùng chửi rủa con cái, quăng thúng đụng nia, hay la mắng người vú léo nhéo.
Phùng chửi xéo, chửi xiên chồng, cùng kèm theo tiếng đập phá đồ đạc. Trong nhà nầy tương tự như một "hoả ngục ở trần gian" rồi. Biết “chui” vào đâu mà “trốn” đây hử?
Lấy vợ nên kiêng lấy vợ ghen.
Áo quần khi xé rách teng beng.
Rủi hôm cao hứng chồng về trễ.
Bể chén, bể ly, bể cái đèn.

Vợ là quả ớt chín cây.
Đỏ tươi ngoài vỏ rất cay trong lòng.
Vợ là một đoá hoa hồng.
Vợ là "sư tử Hà Đông" trong nhà.
Tony than thở… đắn đo; mà bà vợ thì ngầm ngầm có ý định:
Người ơi gặp gỡ làm chi
Để rồi hai đứa chia ly hai đường!
* * *

Mong quý vị “tuyệt thế cao chiêu” nếu ai có diệu kế chi, xin vui lòng bỏ chút thì giờ, mách bảo nho nhỏ, để cho “Năm Tony tôi” xin thỉnh giáo, là: …tôi phải có cách nào hay để “trừng trị cái bà nội tướng”, cho bà ta xép re lép vế xí. Hay là:
Lúc nghĩ tới chuyện ... có con.
Nàng hứ một cái, chẳng còn thiết tha.
Ra đường thấy vợ người ta.
Về nhà thấy vợ... tu cha cho rồi...
Nhưng lỡ ăn kiếp, ở đời.
Cắn răng chịu đựng, chờ thời đổi thay.
Biết đâu sẽ có một ngày.
Ta có cơ hội giải bày vợ hay.
May ra vợ có... nương tay.
Ta mới sống trọn kiếp này dài lâu.
Làm chồng phải nhớ lấy câu:
"Nhất vợ nhì trời", đừng ẩu... phanh thây.
Hay là:
Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trăng xung quanh mây vàng.
Nếu mà anh lấy phải nàng,
Anh thà thắt cổ cho nàng ở không. (*)
Hay là qúy vị: cao thủ, cao kiến, cao lâm, cao niên, niên trưởng, niên …khóa, niên giám, thái giám, thái sư, thái thượng hoàng… chi chi đó… khi nào đi qua Miên xin nhớ nhắc dùm tôi mua cao hổ cốt và ăn đường thốt nốt… (Xin quý vị tha lỗi cho “tôi điên thật” ăn nói ba xàm ba láp tầm bậy tầm bạ, chỉ vì “ con mụ vợ” ni rùi!).
Tôi ước mong qúy vị siêng… ghé viếng thăm người khùng khùng điên điên như Tony tôi, xin vui lòng nhỏ giọt nước mắt xót xa… khích lệ khuyên nhũ Tony tôi nên làm gì… làm gì… (với “con vợ”) bây giờ??? Hay là cho tôi “cùi vì vợ” cho bỏ ghét cái tật tui ngu?) Hỡi Trời!
Và… và… và… Còn một điều nầy nữa… mặc dù Tony tôi đã ghi nhớ những độc chiêu là: những câu Thơ rất quý giá trên; tôi không còn trí óc để nhớ hết các tác giả thần tượng siêu sao kia; (*) những câu thơ đã ghi trong nầy, về VỢ rất trứ danh. Ai là tác giả… ai là ai… mà quá tuyệt vời đến thế không biết. Bội phục! Vậy, nhân đây “Năm Tony tôi” mong quý thi sĩ bỏ lỗi cho tôi về vụ “ tui chôm chĩa” sưu tầm Thơ của quý vị nhá.
Và, Năm Tony mạn phép chêm những câu thơ nầy vào “gia phả nhà họ Cú” của Năm Tony; đồng thời xin hết lòng cảm ơn quý thi sĩ và xin tạt dạ ghi ơn.

_ * * * _



Ái Ưu Du



-----------------------------
Ái Ưu Du

Tôi ước mong học hỏi cùng quý vị: Trau dồi tư tưởng. Mở rộng kiến thức. Nâng cao tâm hồn. Trao nhau niềm thành tín cậy trông.
Ái Ưu Du cảm ơn quý vị.
Gửi lúc 17:09:24 Mar 18 2010 Go to Top of Page
Trang: Previous Topic Chủ đề Next Topic  

Chủ đề có tất cả 16 trang :      <<Đầu Trang trước  1  2  3  4  5  6  7  8  9 10 11 12 13 14 15

 Tạo chủ đề mới   Gởi bài trả lời
 In chủ đề
Chuyển tới:
 Tất Cả Các Diễn Đàn Powered By: Snitz Forums 2000